<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Phong Tục Tập Quán - Phong Tục Việt Nam - Việt Nam - Nước Việt &#187; Tôn Giáo</title>
	<atom:link href="http://phongtuctapquan.com/category/ton-giao/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://phongtuctapquan.com</link>
	<description>phongtuctapquan.com</description>
	<lastBuildDate>Thu, 11 Apr 2019 10:55:33 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>Tìm hiểu những tôn giáo đồng hành với lịch sử dân tộc</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/tim-hieu-nhung-ton-giao-dong-hanh-voi-lich-su-dan-toc.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/tim-hieu-nhung-ton-giao-dong-hanh-voi-lich-su-dan-toc.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:28:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tôn Giáo]]></category>
		<category><![CDATA[các tôn giáo ở việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo việt nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=74</guid>
		<description><![CDATA[Là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của công dân Việt Nam được quy định rõ trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế, <a href="http://phongtuctapquan.com/tim-hieu-nhung-ton-giao-dong-hanh-voi-lich-su-dan-toc.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của công dân Việt Nam được quy định rõ trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế, được tất cả những người có lương tri trong nước và trên thế giới thừa nhận.</p>
<p>Điều 70, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, ghi rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Cùng với việc khẳng định trong Hiến pháp, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các pháp lệnh, nghị định, đặc biệt là Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo, nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo khuôn khổ pháp luật.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//dan+toc.jpg?MOD=AJPERES&amp;CACHEID=36833a004efa11bf94f4f462d40695d8" alt="" width="500" height="312" /></div>
<p>Ở Việt Nam có hầu hết các tôn giáo lớn với đông đảo tín đồ, chức sắc, nhà tu hành. Đến hết năm 2012, ở Việt Nam có 13 tôn giáo với 36 tổ chức tôn giáo và 1 pháp môn tu hành đã được Nhà nước công nhận, cấp đăng ký hoạt động, với gần 24 triệu tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), 83.000 chức sắc, 250.000 chức việc, 46 cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo. Hơn 25.000 cơ sở thờ tự trên mọi miền đất nước, trong đó có nhiều công trình được trùng tu, xây mới bền vững, khang trang. Cùng với việc công nhận tư cách pháp nhân, mở mang cơ sở thờ tự, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đều xây dựng đường hướng hoạt động tiến bộ: gắn bó, đồng hành với dân tộc, hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật, ủng hộ và tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quan hệ quốc tế trong tôn giáo cũng ngày càng được mở mang, cải thiện. Nhiều giáo hội không chỉ gửi người trẻ tuổi đi đào tạo ở nước ngoài mà còn tham dự hàng loạt các hội nghị tôn giáo quốc tế, tiếp nhận các chương trình đầu tư hoạt động từ thiện của các tổ chức tôn giáo quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, v.v&#8230;</p>
<p>Tại cuộc Hội thảo quốc tế &#8220;Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập &#8211; Những kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ&#8221; do Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp với Liên minh châu Âu tổ chức ngày 14 &#8211; 6 &#8211; 2012, tại thành phố Hà Nội, cố vấn chính trị Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam Juan-Jose Almagro Herrador đã phát biểu: “Thời gian qua, Việt Nam đã có những bước phát triển rất quan trọng về tự do tôn giáo và tín ngưỡng”. Mới đây, Tổng Giám mục Leopoldo Girelli &#8211; Đặc phái viên không thường trú của Tòa thánh Vatican tại Việt Nam đã đến thăm Mục vụ Giáo hạt Quảng Trị và Tổng giáo phận Huế. Chứng kiến những đổi thay trong hoạt động tôn giáo trên địa bàn, Đặc phái viên Leopoldo Girelli bày tỏ lòng biết ơn về sự quan tâm của chính quyền đã dành cho Giáo hội Công giáo nói chung, Giáo phận Huế và Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang nói riêng như: Ưu ái giao đất, mở rộng cơ sở thờ tự và làm đường sá thuận lợi cho việc đi lại của giáo dân… Từ những điều tận mắt chứng kiến, Đặc phái viên nhắc nhở cộng đoàn “phải có bổn phận và trách nhiệm đối với xã hội, đối với chính quyền, đối với địa phương mình đang sinh sống, sống công bằng, yêu thương và phục vụ…”.</p>
<p>Trong buổi tiếp đoàn Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tới thăm, chúc mừng nhân Lễ Phật đản 2013, với niềm hoan hỷ Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ &#8211; Đệ tam Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam ghi nhận sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với hoạt động của Giáo hội. Theo Đại lão Hòa thượng, sự quan tâm ấy là cơ sở cho những kết quả phụng đạo yêu nước của tăng ni, phật tử Phật giáo Việt Nam thời gian qua. Kính mừng Đại lễ Phật đản, tăng ni, cư sĩ, phật tử các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn thành tâm, tinh tấn nỗ lực thực hiện tốt công tác Phật sự ích đời lợi đạo, góp phần xây dựng cuộc sống an lạc, yên vui, hạnh phúc&#8230; Chỉ cần điểm qua những nét cơ bản ấy đã đủ thấy bức tranh tôn giáo ở Việt Nam là rất sáng sủa. Mọi tôn giáo ở Việt Nam đều được tạo điều kiện để phát triển, hoạt động theo quy định của luật pháp. Mọi giáo dân chân chính đều phấn đấu sống &#8220;tốt đời, đẹp đạo&#8221;, gắn &#8220;đạo&#8221; với &#8220;đời&#8221;, các tôn giáo đồng hành với dân tộc.</p>
<p>Trong một báo cáo gần đây, cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” viện dẫn một số trường hợp công dân Việt Nam theo các tôn giáo vi phạm pháp luật bị các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng các biện pháp xử lý, để rồi nói rằng: “Việt Nam đàn áp tôn giáo” là một sự xuyên tạc, vu cáo trắng trợn. Cần nhắc lại rằng, không chỉ ở Việt Nam mà với mọi quốc gia trên thế giới, tôn giáo không thể đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật. Giáo dân trước hết là công dân, mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật. Khi phạm vào các tội được quy định trong pháp luật, thì dù công dân đó có đạo hay không có đạo đều chịu sự trừng phạt của pháp luật một cách bình đẳng. Tự do tôn giáo không thể bị đánh lận với những đối tượng lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi phạm pháp, bị điều tra, truy tố, xét xử. Ở Việt Nam không có chuyện đàn áp tôn giáo, mà chỉ có những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam bị xử lý mà thôi.</p>
<p><strong>PHÙNG KIM LÂN</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/tim-hieu-nhung-ton-giao-dong-hanh-voi-lich-su-dan-toc.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hình ảnh ngôi chùa trong đời sống văn hóa của người Khmer Nam Bộ</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/hinh-anh-ngoi-chua-trong-doi-song-van-hoa-cua-nguoi-khmer-nam-bo.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/hinh-anh-ngoi-chua-trong-doi-song-van-hoa-cua-nguoi-khmer-nam-bo.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:26:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tôn Giáo]]></category>
		<category><![CDATA[các tôn giáo ở việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo việt nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=71</guid>
		<description><![CDATA[Toàn vùng cư trú của người Khmer ở Nam Bộ có khoảng 600 ngôi chùa, mỗi ngôi chùa quy tụ trên dưới 1.600 dân, với khoảng 10.620 sư sãi, trong khi đó dân tộc Khmer chỉ có hơn 1 triệu người. Người Khmer, từ khi chào đời, đến khi trưởng thành rồi về già mọi <a href="http://phongtuctapquan.com/hinh-anh-ngoi-chua-trong-doi-song-van-hoa-cua-nguoi-khmer-nam-bo.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Toàn vùng cư trú của người Khmer ở Nam Bộ có khoảng 600 ngôi chùa, mỗi ngôi chùa quy tụ trên dưới 1.600 dân, với khoảng 10.620 sư sãi, trong khi đó dân tộc Khmer chỉ có hơn 1 triệu người. Người Khmer, từ khi chào đời, đến khi trưởng thành rồi về già mọi sự vui, buồn, sướng, khổ đều gắn chặt với ngôi chùa. Cho dù cuộc sống vật chất còn nghèo nàn, cơm ăn, áo mặc chưa đủ, sống trong ngôi nhà lá, nhưng người Khmer vẫn dồn hết tâm lực để xây dựng ngôi chùa khang trang lộng lẫy. Mỗi ngôi chùa là một công trình kiến trúc độc đáo, tiêu biểu, tề chỉnh trong khuôn viên, ẩn mình dưới những tán lá của cây dầu, cây thốt nốt. Vì thế, ngôi chùa trở thành trung tâm sinh hoạt tôn giáo, trung tâm tu luyện và trụ trì của sư sãi, trung tâm sinh hoạt cộng đồng, trung tâm lưu giữ giá trị văn hoá lịch sử của người Khmer. Ngôi chùa kết tụ tạo nên một không gian &#8220;thiêng&#8221; đặc sắc về văn hoá Nam Bộ Việt  Nam.- Ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo</p>
<p>Chùa của người Khmer chỉ thờ duy nhất Đức Phật Thích Ca Mầu Ni ở chính điện, nơi đặt tượng Phật cao và to nhất trên bệ thờ. Cuộc đời thái tử Tất Đạt Đa sinh vào khoảng 560-480 trước công nguyên, con vua nước Tịnh Phạn (Nê Pan ngày nay) đã dứt bỏ cuộc sống giàu sang trong hoàng cung, chọn đường tu nghiệp khổ hạnh, tìm ra tứ diệu đế &#8211; &#8220;bốn chân lý&#8221; cao siêu: Khổ, Tập, Diệt, Đạo đế.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//ct322173-1.jpg" alt="" width="602" height="393" /></div>
<p>Khổ đế: đời là bể khổ, khổ đau là tuyệt đối, là bản chất của tồn tại. Sinh, lão, bệnh, tử là khổ. Còn khổ đau là tồn tại, còn tồn tại là còn khổ đau…</p>
<p>Tập đế: Nguồn gốc sinh ra mọi khổ đau của con người đó là tham, thâm, (lòng tham giàu, quyền lực, thể xác)</p>
<p>Diệt đế: Đi tu (vô ngã, vô thường), diệt hết dục vọng tham, thâm, si của con người để đạt tới chân lý &#8220;Quang Minh&#8221;.</p>
<p>Đạo đế: Bát chính đạo đó là: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tịnh tiến, chính niệm, chính định.</p>
<p>Có thể nói lý tưởng sống truyền thống của người Khmer là đạo Phật. Phải rèn luyện theo đạo pháp cao siêu &#8220;tứ diệu đế&#8221;. Theo quy định, sư sãi thường ngày phải tụng kinh tại chùa ba cữ: sáng, trưa và chiều tối. Còn dân thường, mỗi tháng phải lên chùa tụng kinh niệm Phật ít nhất 6 ngày (ngày 5, 8, 15, 20, 13, 30 âm lịch hàng tháng). Ngôi chính điện là nơi cử hành những cuộc lễ lớn: lễ Phật đản, lễ nhập Hạ, lễ xuất Hạ, lễ Ban hành giáo lý, lễ cầu siêu được tổ chức trong chùa. Ngoài ý nghĩa là trung tâm thờ Phật, chính điện còn là nơi tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc của người Khmer.</p>
<p>&#8211; Ngôi chùa là trung tâm tu luyện và trụ trì của sư sãi</p>
<p>Mỗi người con trai Khmer, bất kể thuộc tầng lớp xã hội nào đều phải đi tu để là người có nhân cách, có phẩm chất và đạo đức tốt theo quan niệm của họ. Về nguyên tắc, đi tu từ 12 đến 20 tuổi gọi là để trả ơn mẹ và từ 21 tuổi trở lên là trả hiếu cha. Họ xem việc đi tu vừa là nghĩa vụ, vừa là vinh dự của cuộc đời. Tu dài hay ngắn, tu vĩnh viễn hay hoàn tục, tuỳ ý của người con trai. Mới hôm qua còn tại gia, người con trai phải vâng lời cha mẹ, nhưng chỉ ít sau lễ &#8220;quy y tại chùa&#8221;, khoác áo màu vàng, người con trai thành vị sư và ngay lập tức, vị trí xã hội thay đổi. Cha, mẹ gặp con lúc ấy phải quỳ lạy sùng kính, vì đứa con đã là một trong &#8220;Tam bảo&#8221; của nhà Phật. Vì thế, ngôi chùa là trung tâm &#8220;tu luyện&#8221; các thế hệ thanh niên về đạo đức và nhân cách.</p>
<p>Các vị chức sắc: Đại Đức, Thượng Toạ, Mê Kôn, sãi cả, sãi phó có quyền uy tinh thần rất lớn đối với nhân dân. Các vị sư sãi được nhân dân sùng kính, bởi vì họ là những người trí thức dạy dân học chữ, học nghề, tổ chức cuộc sống cho nhân dân, đám cưới, đám tang. Khi gia đình có người ốm đau, bệnh tật, thiên tai, hoạn nạn đều có mặt các vị sư chia bùi sẻ ngọt, tụng kinh làm phước. Họ đã đến với dân chúng trong những lúc khó khăn nhất mà không cần bất cứ điều kiện nào nên sư sãi gắn bó ruột thịt với nhân dân.</p>
<p>Thông thường mỗi sóc của người Khmer có một ngôi chùa. Mỗi ngôi chùa trung bình có từ 15 đến 30 vị sư sãi, thậm chí có chùa có tới 100 vị sư sãi. Đời sống của các vị tu hành được duy trì bằng sự quyên góp. Được cúng tiến của cải xây chùa, nuôi các vị tu hành là một vinh dự, một hạnh phúc, một niềm tự hào trong cuộc sống của người Khmer.</p>
<p>&#8211; Ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt cộng đồng</p>
<p>Từ những ngày lễ hội thuần tuý Phật giáo như: lễ Phật Đản, lễ nhập Hạ, lễ xuất Hạ, lễ Ban hành giáo lý, lễ cầu siêu, lễ hội dân tộc đến việc biểu diễn văn nghệ, sinh hoạt vui chơi và cả sinh hoạt cộng đồng phum, sóc cũng diễn ra ở chùa. Chùa không chỉ đơn thuần là nơi sinh hoạt tôn giáo mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hoá, xã hội.</p>
<p>Lễ hội thường kéo dài suốt đêm và trong nhiều ngày. Trong những ngày lễ, nhất là ban đêm, chùa đông nghịt tín đồ, khách khứa. Hàng quán mọc lên đầy sân chùa. Sinh hoạt vui chơi như đá cầu, ném tạ ăn tiền, chơi cù, nhảy lưới, giấu khăn, bịt mặt bắt dê, đánh đáo, kéo co… và các lễ đọc kinh, cầu nguyện kéo dài tới 2 đến 3 giờ sáng mới chấm dứt, rồi lại tiếp tục đến ngày hôm sau.</p>
<p>Lễ hội thường gắn với các hình thức văn nghệ truyền thống của dân tộc. Nghệ thuật cổ truyền của người Khmer được phát huy tác dụng: sân khấu truyền thống Dù Kê, Rô Băm, múa dân gian như Sarikakeo, Saravan, Romvông được các nghệ nhân chuyên nghiệp, hoặc nghiệp dư đua tài biểu diễn &#8220;làm phước&#8221; đúng như nội dung của lễ hội. Các buổi trình diễn văn nghệ này mang đầy bản sắc văn hoá dân tộc và khẳng định ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt cộng đồng.</p>
<p>&#8211; Ngôi chùa là trung tâm lưu giữ các giá trị lịch sử, văn hoá</p>
<p>Có thể nói, chùa nào của người Khmer cũng bao gồm một hệ thống thiết chế văn hoá: thư viện &#8211; nơi tàng trữ các loại thư tịch cổ, bảo tàng mỹ thuật và lịch sử &#8211; nơi sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, trường học chữ và bản thân kiến trúc của chùa cũng là một công trình văn hoá</p>
<p>Chùa bao giờ cũng được xây dựng ở cao ráo và bằng phẳng. Ngôi chính điện được quy định luôn luôn quay về hướng mặt trời mọc. Chính điện còn là nơi tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc trang trí của người Khmer. Tượng Phật Thích ca Mâu Ni còn được đúc, chạm, khắc rất đẹp ở nhiều tư thế đứng, nằm, ngồi. Đó là thể hiện sự đa dạng, phong phú của ý nghĩa đạo đức và vẻ đẹp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ở ngôi chính điện còn là nơi tàng giữ của cải quý báu của nhà chùa và dân chúng dâng cúng.</p>
<p>Mỗi ngôi chùa được xây dựng đều dựng bia kỷ niệm. Qua đó, giúp mọi người hiểu được lịch sử của ngôi chùa gắn bó, quy tụ con người thành cộng đồng phum, sóc từ buổi đầu khai hoang, lập ấp.</p>
<p>Ngôi chùa nơi giữ truyền thống văn hoá của người Khmer, thông qua các lễ hội văn hoá, nghệ thuật ca,múa,nhạc, làm sống động quá khứ &#8211; hiện tại &#8211; tương lai, làm rung động biết bao trái tim và tâm hồn con người Khmer trong cuộc sống.</p>
<p>Cả cuộc đời một con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi, mọi vui, buồn, sướng, khổ,thành, bại đều gắn chặt với ngôi chùa. Ngôi chùa đối với người Khmer mang một tình cảm sâu sắc vì chùa là nơi thờ phật, nơi lưu giữ hài cốt của tổ tiên, và điều ước mong của con người đang sống là khi nhắm mắt xuôi tay được nhập tịch vào chùa để sống cuộc đời Tiên Phật trên cõi niết bàn xa xăm.</p>
<p>700 năm trôi qua, triết lý Phật giáo thấm đẫm thể xác và tâm hồn con người Khmer &#8220;đi cũng thiền, ngôi cũng thiền, trong lửa lò hồng một đoá sen&#8221;. Lò lửa hồng đã nhào nặn tâm hồn con người Khmer &#8220;lòng gương trong sáng bụi không mờ&#8221; và &#8220;cao đẹp ngời sáng ánh trăng rằm&#8221; với cuộc sống thanh cao, giản dị tựa hoa sen Tháp Mười.</p>
<p>Ngôi chùa, sư sãi, phật pháp là &#8220;ba viên viên ngọc quý&#8221; toả sáng, tạo nên hình ảnh làng quê Nam Bộ Việt Nam, một không gian văn hoá Phật đặc sắc. Tiếng chuông chùa ngân vang, tiếng gõ mõ đều đều nhịp, tiếng đọc kinh của sư sãi hoà trong mùi thơm của hương hoa, dồn tụ thành cuộc sống linh thiêng của ngôi chùa người Khmer Nam Bộ .</p>
<p>Từ những ngôi chùa của người Khơ Me Nam Bộ, ta lại liên tưởng đến không gian văn hoá chùa ở Bắc Bộ như chùa Trăm gian, chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp, chùa Keo, chùa Vạn Phúc… Đó là những công trình kiến trúc tuyệt đẹp, &#8220;lắng đọng hồn sông núi&#8221;, tạo nên tâm hồn Việt: bình đẳng, từ bi, nhân ái, vị tha.</p>
<p>Nguyễn Đăng Văn</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/hinh-anh-ngoi-chua-trong-doi-song-van-hoa-cua-nguoi-khmer-nam-bo.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Công giáo ảnh hưởng như thế nào đến văn hóa dân tộc Việt Nam</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/cong-giao-anh-huong-nhu-the-nao-den-van-hoa-dan-toc-viet-nam.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/cong-giao-anh-huong-nhu-the-nao-den-van-hoa-dan-toc-viet-nam.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:26:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tôn Giáo]]></category>
		<category><![CDATA[các tôn giáo ở việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo việt nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=72</guid>
		<description><![CDATA[Văn hóa là khái niệm có rất nhiều định nghĩa khác nhau nhưng ở các định nghĩa đều có cái chung là văn hóa đã bao hàm thành tố tôn giáo, tín ngưỡng. Thành ra, nói văn hóa là nói tới tôn giáo, tín ngưỡng. Không có nền văn hóa của dân tộc nào không <a href="http://phongtuctapquan.com/cong-giao-anh-huong-nhu-the-nao-den-van-hoa-dan-toc-viet-nam.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Văn hóa là khái niệm có rất nhiều định nghĩa khác nhau nhưng ở các định nghĩa đều có cái chung là văn hóa đã bao hàm thành tố tôn giáo, tín ngưỡng.</p>
<p>Thành ra, nói văn hóa là nói tới tôn giáo, tín ngưỡng. Không có nền văn hóa của dân tộc nào không liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng. Vì vậy, tôn giáo, tín ngưỡng chính là văn hóa. Nói <em>“Tôn giáo và văn hóa</em>” là sự tách bạch, khu biệt trong tư duy để xem xét, nghiên cứu chứ trong thực tiễn chúng đan xen vào nhau. Chúng tôi xin minh chứng một trường hợp là Công giáo ở Việt Nam. Công giáo là một tôn giáo trẻ, mới du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVI nhưng chúng cũng đã để lại nhiều dấu ấn với văn hóa nước ta và cũng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hóa bản địa.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//tranhtongiao%20%2812%29.jpg" alt="" width="304" height="393" /></div>
<ol>
<li><strong>1. </strong><strong>Quan niệm về văn hóa của Công giáo</strong></li>
</ol>
<p>Ở phương Đông như Trung Quốc cổ đại đã coi văn hóa là phương thức để giáo hóa con người: “văn trị, giáo hóa”. Nhiều nước phương Tây như Anh, Pháp dùng từ <em>culture</em> để chỉ văn hóa, người Đức gọi văn hóa là <em>kultur</em>, người Nga gọi là <em>kyltypa</em>. Những từ trên đều có chung gốc với chữ Latinh <em>cultus animi</em> có nghĩa là “trồng trọt tinh thần”. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên trong tuyên bố về những chính sách văn hóa, hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì năm 1982 tại Mehicô đã đưa ra định nghĩa phổ quát về văn hóa: “ <em>Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có đầu óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân</em>”.</p>
<p>Công giáo có nhiều văn bản nói về văn hóa. Công đồng Vatican II định nghĩa: “ <em>Văn hóa chỉ tất cả những gì con người dùng để trau dồi và phát triển các năng khiếu đa dạng của tâm hồn và thể xác; cố gắng chế ngự cả trái đất bằng trí thức và lao động; làm cho đời sống xã hội, đời sống gia đình cũng như đời sống chính trị trở thành nhân đạo hơn nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế; sau hết diễn tả, thông truyền và bảo tồn trong các công trình của mình, những kinh nghiệm tinh thần và hoài bão lớn lao của thời đại, để giúp con người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn”</em>(1).</p>
<p>Như vậy quan niệm về văn hóa của Công giáo cũng không khác nhau bao nhiêu với định nghĩa của UNESCO. Cái khác nhất có lẽ là các học giả Công giáo nhấn mạnh yếu tố tôn giáo trong văn hóa. Hồng y Joseph Rtazinger sau là Giáo hoàng Benedicto XVI (mới từ nhiệm) viết: “<em>Trong tất cả các nền văn hóa mà ta được biết trong lịch sử, tôn giáo luôn là một yếu tố căn bản của văn hóa, thậm chí là linh hồn của văn hóa. Chính tôn giáo ấn định cấu trúc của các giá trị và do đó hình thành lý lẽ nội tại của cấu trúc ấy</em>” (2).</p>
<p>Thật ra, một số nhà nghiên cứu ngay ở Việt Nam cũng có ý kiến tương đồng. GS. Trần Quốc Vượng viết: “<em>Ở trung tâm mỗi tôn giáo lớn đều có hạt nhân triết học, đều có chủ nghĩa nhân đạo là thành tựu văn hóa lớn nhất của loài người. Cái từ bi của Phật, cái bác ái của Chúa Kittô, cái nhân nghĩa của Khổng Nho là những hạt ngọc văn hóa đó… Nhìn nhận vấn đề tôn giáo theo quan điểm văn hóa học, tôi thấy thế này: xét theo quan điểm lịch sử phát sinh và trưởng thành, tôn giáo vừa là sản phẩm của văn hóa, vừa là thành phần hữu cơ, một nhân tố cấu thành của văn hóa</em>” (3).</p>
<p>Tuy nhiên, trong quá trình truyền bá Công giáo sang các nước, với nhiệt tình thái quá và cứng nhắc của các nhà truyền giáo, Kitô giáo đã vấp phải sự chống đối từ sự tự vệ của văn hóa các dân tộc và xung đột đã xảy ra làm đổ máu nhiều người. Chính Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã thừa nhận: “ <em>Họ đi cắm Thánh giá, phân phát niềm hy vọng Kitô giáo, phổ biến tiến bộ trí tuệ và kỹ thuật của họ. Nhưng họ cũng là những người xâm lăng, họ đi cắm nền văn hóa của họ vào, họ chiếm tài sản của các bộ tộc khác mà thường là họ coi khinh những truyền thống riêng và thường xuyên bắt phục tùng quyền lợi của họ một cách hung bạo</em>” (4).</p>
<p>Sau nhiều bài học đẫm máu và nước mắt, Công giáo đã đưa ra khái niệm “<em>hội nhập văn hóa dân tộc</em>” vào những năm 1970 để thích ứng với các nền văn hóa. Song buổi đầu, chủ trương này vẫn mang tính áp đặt, một chiều như tuyên bố của Liên Hội đồng giám mục Á châu (FABC) năm 1974: “<em>Tin mừng được tháp nhập vào nền văn hóa để sàng lọc và thanh tẩy nó</em>”. Phải gần 20 năm sau, FABC mới đưa ra quan niệm hai chiều, hỗ tương giữa đạo Công giáo và văn hóa bản địa: “<em>Một mặt, người tín hữu được mời gọi gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hóa, trong đó người tín hữu tìm được chính mình. Mặt khác, Tin mừng là một thách đố sâu sắc đối với các nền văn hóa. Các Kitô hữu phải học biết nhận định cái tốt, cái thật và cái đẹp là những điều họ tìm kiếm để hỗ trợ và hội nhập vào cuộc sống của mình, từ những giá trị được chuyển hóa hay thậm chí phải bác bỏ</em>” (5).</p>
<p>Dĩ nhiên, mục tiêu của “hội nhập văn hóa” là nhằm truyền giáo hiệu quả hơn: <em>“ Qua việc hội nhập văn hóa, giáo hội làm cho Tin mừng nhập thể vào các nền văn hóa khác nhau và đồng thời đưa dân chúng, cùng với văn hóa của họ, bước vào cộng đoàn của mình</em>” (6).</p>
<p>Sẽ là sai lầm nếu chủ trương loại bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống của con người vì tôn giáo chính là văn hóa mà con người không thể phát triển nếu tách khỏi môi trường văn hóa.</p>
<ol start="2">
<li><strong> Công giáo với văn hóa Việt Nam<br />
</strong></li>
</ol>
<p>So với các tôn giáo khác du nhập vào nước ta thì Công giáo là tôn giáo trẻ vì nói mới truyền đến Việt Nam từ thế kỷ XVI. Thế nhưng tôn giáo này đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa nước ta, để lại dấu ấn đậm trên văn hóa nước nhà.</p>
<p>Điều trước tiên là Công giáo trở thành cầu nối giao lưu giữa văn hóa phương Đông và phương Tây. Thông qua các nhà truyền giáo, văn minh, văn hóa phương Tây được giới thiệu ở Việt Nam và văn hóa Việt Nam cũng được giới thiệu ở phương Tây. Từ chiếc đồng hồ chạy bằng dây cót, cách in chữ bằng con chữ đúc rời, đến phương pháp chữa bệnh theo lối Tây y. Từ các tranh tượng đạo thời Phục Hưng, các nhạc phẩm nổi tiếng thế giới đến chữ quốc ngữ. Chữ quốc ngữ đã làm cho chúng ta tự cường hơn và mau chóng hội nhập với thế giới ngày nay. Cũng thông qua các nhà truyền giáo, lần đầu tiên thế giới phương Tây biết đến chữ viết, phong tục tập quán của Việt Nam khi bộ sách của Alexandre de Rhodes gồm <em>“ Phép giảng tám ngày</em>”, “<em>Từ điển Việt &#8211; Bồ &#8211; La</em>”, “ <em>Ngữ pháp tiếng Việt</em>” được xuất bản ở phương Tây từ giữa thế kỷ XVIII. Điều đặc biệt, khi đến từ phương Tây nhưng nhiều giáo sĩ lại tôn trọng và đề cao văn hóa, phong tục của người Việt. Bulzomi, người Ý đã nhận xét: “<em>Nhờ Khổng giáo, xã hội và gia đình Việt Nam đã có một tổ chức rất cao, người dân Việt Nam có những đức tính và phong tục rất đáng khâm phục… Họ không nghiêng về văn chương, tính tình không nham hiểm như người Tàu. Họ không quá nghiêng về quân bị, tính tình không độc ác như người Nhật. Về tầm thước họ không cao như người Tàu, cũng không thấp như người Nhật, dễ nghe, dễ tin và nhiều mê tín nhưng người Việt dễ nhận ra lẽ phải, không kiêu căng hay tự tôn như người Tàu</em>” (7). Một số giáo sĩ cũng kịch liệt chống lại quan niệm cho rằng: ngoài châu Âu là man di mọi rợ hay Trung Quốc là tất cả những gì đẹp đẽ nhất trái đất. Đắc Lộ viết: “<em>Tôi không biết vì sao đất nước rất xinh đẹp này lại không được biết tới, vì sao các nhà địa lý châu Âu không biết tên gọi và không ghi trong bản đồ nào cả. Tuy họ chép đầy đủ tên các nước trên thế giới</em>” (8).</p>
<p>Công giáo không chỉ mang đến cho Việt Nam một tôn giáo mới với nhiều lễ hội quanh năm, với cả một kho tàng văn học nghệ thuật, báo chí Công giáo làm phong phú thêm văn hóa nước nhà. Chỉ nói riêng những ghi chép của các giáo sĩ thủa xưa đã là căn cứ tư liệu lịch sử làm bằng chứng về chủ quyền biển đảo nước ta hiện nay nhất là chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.</p>
<p>Vì trong số các nhà truyền giáo, họ vốn là những nhà nghiên cứu khoa học trên nhiều lĩnh vực nên đi đến đâu, họ ghi chép, vẽ bản đồ đến đấy. Giáo sĩ Christoforo Bulzomi là người đặt chân đến cửa Hội An năm 1615 đã viết: “<em>Hải cảng đẹp nhất, nơi mà tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ, danh thắng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam… Chúa Đàng Trong cho người Nhật, người Hoa tự chọn một địa điểm thuận tiện để lập một thành phố chuyên cho việc buôn bán. Thành phố này gọi là Faifo tức là Hội An</em>” (9).</p>
<p>Các giáo sĩ cũng ghi chép việc chúa Nguyễn đã thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thông qua việc cử người khai thác hải sản hay khoáng sản và nhất là cắm cờ chủ quyền ở khu vực này. Trong cuốn <em>Soria della in die Grianfocti</em> của Felice Rifamoli xuất bản ở Milano năm 1625 viết: “<em>Thuyền trưởng các tàu buôn qua lại vùng này thích cập cảng Hội An hay những cảng gần thủ đô Huế. Những người đi biển ở ba cảng này (tức cảng Huế, Hội An, Đà Nẵng) là những người lão luyện nhất của quốc gia này và hàng năm có chuyến đi biển đến quần đảo và bãi đá nhỏ có tên là Hoàng Sa (Paracels) nằm cách bờ biển Đàng Trong khoảng 20 &#8211; 30 dặm… Tàu nhổ neo, chỉ một thời gian là đến ngay một nơi gọi là Paracels. Paracels là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam. Đó là bãi đá ngầm kéo dài đến hàng trăm dặm chạy dài xuống phía nam chạy dọc theo bờ biển xứ Cochinchina (Đàng Trong). Tàu Amphirite là tàu đầu tiên du hành đến Trung Quốc suýt bị đắm. Nhưng có chỗ cạn chỉ có 4 &#8211; 5 sải nước. Thoát được nguy hiểm ở đây thì chỉ có phép lạ. Bị đắm tàu trên những tảng đá khủng khiếp đó hoặc bị lạc phương hướng khi không còn tý nguồn dự trữ nào thì cũng nguy hiểm như nhau mà thôi</em>” (11).</p>
<p>Giám mục người Pháp là Louis Taberd trong cuốn “ <em>Lịch sử thế giới &#8211; các dân tộc, tôn giáo và phong tục, tập quán của họ</em>” xuất bản ở Paris năm 1853 đã ghi lại: “<em>Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng, từ 34 năm nay, quần đảo Paracels mà người Việt gọi là Cát Vàng (Hòang Sa) gồm rất nhiều hòn đảo chằng chịt với nhau, lởm chởm</em> <em>những hòn đá nhô lên. Những hoang đảo này đã được chiếm cứ bởi người Việt xưa ở Đàng Trong… Có điều chúng tôi biết chắc chắn là hoàng đế Gia Long đã ngự tàu ra biển để chiếm các đóa hoa lạ đó cài lên vương miện của ngài, vì vậy mà ngài xét thấy đã đến lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thêm quân đến Hoàng Sa vào năm 1816. Ngài đã trịnh trọng cắm lá cờ đỏ, lá cờ của xứ Đàng Trong</em>”. 16 năm sau, giám mục L. Taberd đã xác nhận lại những ghi chép trên trong một bài báo công bố ở Ấn Độ năm 1849 bằng tiếng Anh: “<em>Năm 1816, vua Gia Long đã tới và long trọng cắm cờ quốc gia của ông và khẳng định chủ quyền trên các quần đảo này và hình như không một ai tranh giành với ông</em>”.</p>
<p>Năm 1701, trong “ <em>Nhật ký tàu Amphirite</em>”, các giáo sĩ cũng ghi lại như sau: “<em>Paracels là quần đảo thuộc về xứ An Nam… Các thuyền xứ Đàng Trong dùng vào việc buôn bán ven biển, lần lượt thu lượm hải sản và tổ yến trong quần đảo Paracels</em>”(11).</p>
<p>Bên cạnh các ghi chép trên là những bản đồ cổ do các giáo sĩ vẽ lại cũng là những tư liệu quan trọng. Bản đồ cổ có giá trị nhất là “<em>An Nam đại quốc họa đồ</em>” do giám mục Louis Taberd xuất bản ở Ấn Độ năm 1838, được in trong cuốn từ điển “<em>Nam Việt tự vị</em>” khổ 40x80cm trong đó có ghi rõ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Bản đồ của giáo sĩ Alexandre de Rhodes cũng có ghi đảo Pulosisi trùng với Hoàng Sa hiện nay. Hay bản đồ của giáo sĩ người Hà Lan “<em>Việt Nam với Đàng Ngoài &#8211; Đàng Trong và biển Đông với quần đảo Pracel” </em>in trong Carte de L’Indochine 1658 &#8211; 1659 cũng khẳng định điều đó.</p>
<p>Trên đây đã nói về dấu ấn của Công giáo với văn hóa Việt, ngược lại văn hóa Việt cũng góp phần biến đổi một tôn giáo xa lạ như Công giáo trở thành gần gũi với dân tộc Việt Nam.</p>
<p>Có thể kể ra nhiều ảnh hưởng của văn hóa dân tộc với Công giáo. Từ chỗ làm thay đổi thái độ của Công giáo với các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống cũng như tôn giáo bạn, thúc đẩy tiến trình Việt hóa đội ngũ chức sắc, đến việc đẩy mạnh con đường đồng hành cùng dân tộc của Công giáo. Chỉ nói riêng vấn đề <em>Phụng vụ</em> cũng cho thấy sự thay đổi này.</p>
<p>Phụng vụ (Liturgie) là việc giáo hội thực thi chức tư tế bao gồm thánh lễ, cầu nguyện, ca hát lễ xướng và các loại hình nghệ thuật Công giáo.</p>
<p>Lĩnh vực đầu tiên được chú ý là <em>sách đạo</em>. Chúng ta biết, sách đạo thủa đầu in bằng tiếng latinh. Vì vậy mới có câu:</p>
<p><em>Các thày đọc tiếng Latinh</em></p>
<p><em>Các cô con gái thưa kinh dịu dàng.</em></p>
<p>Nhưng như vậy rất khó phổ biến cho người bản xứ. Khi người Việt dùng chữ Nôm, các giáo sĩ đã soạn sách đạo bằng chữ Nôm. Cuốn giáo lý đầu tiên được linh mục Pina soạn bằng chữ Nôm ấn hành năm 1620. Người để lại kho tàng chữ Nôm đồ sộ đến ngày nay là Majoria (1591 &#8211; 1631) với 45 cuốn khoảng hơn 1,2 triệu chữ. Một số lại dùng thơ ca truyền thống để ghi lại sự tích trong Kinh thánh như công nương Catarina, linh mục Louis Đoan (1613 &#8211; 1678). Ngay ở khu vực dân tộc thiểu số, sách đạo cũng được chú ý. Năm 1861, linh mục Henri Azema đã làm sách giáo lý cho người Xtiêng. Những năm 1865 &#8211; 1870 linh mục Comber đã dịch kinh bổn sang tiếng Banar. Linh mục Janin cũng dịch Cựu ước sang tiếng Banar đầu thế kỷ XX. Bộ sách <em>Hlabar Pơđok</em> tức đại cương thần học, trong đó có bàn đến phong tục tập quán của người Banar được phát hành năm 1925. Nhóm linh mục Trần Sĩ Tín cũng dịch kinh bản ra tiếng Jarai những năm 1969 &#8211; 1973. Khi chữ quốc ngữ được phổ biến, sách đạo dùng chữ quốc ngữ. Bản <em>Kinh thánh cứ bản Vulgata</em> của cố chính Linh (Albert Schilicklin) được dịch ra tiếng Việt in lần đầu ở Hồng Kông năm1913 &#8211; 1914.</p>
<p>Khi phổ cập chữ quốc ngữ, cũng có người phê phán Công giáo làm đứt đoạn với văn hóa truyền thống, làm cho đất nước không hóa rồng được. Điều này không có cơ sở. Bằng chứng là khi chữ quốc ngữ được dùng bắt buộc trong các kỳ thi cử hay giấy tờ hành chính từ năm 1910 theo nghị định của thống sứ Bắc Kỳ. Thì phía Công giáo, nhiều giáo sĩ vẫn dùng chứ Nôm. Trong thư mục vụ ngày 7 &#8211; 10 &#8211; 1910, giám mục Bùi Chu là Pierre Munagorri Trung còn quy định các chủng sinh phải học Tứ thư, Ngũ kinh, Nam sử lược. Giám mục Pierre Marie Gendreau Đông (1892 &#8211; 1935) cũng chỉ thị cho các linh mục trong địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội ngày nay) phải tuyển chọn các ông đồ Nho làm giáo viên giảng dạy cho các học trò xứ đạo.</p>
<p>Quá trình “Việt hóa đạo” này làm cho các ông cố Tây trước đây bắt người Việt Nam gia nhập Công giáo phải bỏ tên cha mẹ đặt cho để nhận một tên thánh lạ hoắc như Anrê, Gioan, Anna, Maria…, nay thì chính các cố Tây phải đổi sang tên Việt Nam ví dụ: giám mục <em>Liêu </em>(tức Retord), giám mục <em>Đông </em>(tức Gendreau), cố <em>Lương</em> (tức linh mục Cardro). Thậm chí các thánh cũng bị Việt hóa như thánh Vincent gọi là thánh <em>Vinh Sơn</em>, thánh Dominico gọi là thánh <em>Đa Minh</em>. Các hội đoàn từ Tây nhập vào như dòng Benedict gọi là dòng <em>Biển Đức</em>, hội Sulpicien gọi là hội <em>Xuân Bích</em>…</p>
<p>Về thánh lễ, trước đây lời đọc là tiếng la-tinh sau được chuyển sang tiếng Việt. Người ta cũng chấp nhận một số nghi thức văn hóa dân tộc như việc thắp hương trước bàn thờ hay dùng tiếng cồng chiêng thay tiếng chuông trong thánh lễ. Một số nơi còn cho phép giáo dân ghi lời khấn xin ra giấy và đốt đi trước tượng ảnh Đức Mẹ. Trong thánh lễ, thánh nhạc được dùng cũng thuần Việt không chỉ về lời mà còn khai thác cả giai điệu dân ca. Lúc đầu, người ta cho dịch các bài hát ra tiếng Việt mà người khởi xướng là linh mục Vượng ở tỉnh Nam Định những năm 1939 &#8211; 1940. Đến tháng 7 &#8211; 1945, nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh ra đời với tuyên ngôn: “<em>Về nội dung, phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc, về nghệ thuật lấy dân ca cổ truyền làm cấu trúc âm thanh</em>” đã mở ra giai đoạn mới cho thánh nhạc Việt. Bây giờ từ dân ca quan họ Bắc Ninh, hò Huế, dân ca Nam Bộ đến những giai điệu bốc lửa của Jarai cũng đều tìm thấy trong thánh nhạc.</p>
<p>Về <em>hội họa</em> Công giáo, trước đây trên bàn thờ chỉ có các bức tranh tượng từ phương Tây đưa sang, bây giờ có nhiều tranh tượng của người Việt sáng tác. Hình mẫu, phong cách cũng rất Việt. Ví dụ bức tranh lụa <em>Madalena dưới chân Thập giá</em> của Lê Văn Đệ. Nữ thánh ở đây là phụ nữ người Việt với mái tóc dài đổ xuống bờ vai, đôi mắt mở to, phó thác cậy trông bên chân Thập giá. Bức sơn dầu <em>Giáng sinh</em> của họa sĩ Nguyễn Gia Trí lại tái hiện Đức Mẹ trong tà áo tứ thân, đầu chít khăn mỏ quạ thấp thoáng khóm tre, con trâu. Tượng <em>Đức Mẹ La Vang</em> lại là phụ nữ với trang phục quý phái đầu đội khăn xếp, áo mớ bảy mớ ba như hoàng hậu.</p>
<p>Về <em>kiến trúc</em>, trước đây các nhà thờ được xây cất theo kiến trúc phương Tây. Hiếm hoi lắm mới xuất hiện nhà thờ Phát Diệm kiến trúc theo kiểu đình, chùa Việt hồi cuối thế kỷ XIX. Bây giờ rất nhiều kiến trúc nhà thờ Công giáo theo phong cách này. Nhà thờ Pleichuet, Gia Lai (ảnh trên) được khánh thành năm 2005 hệt giống ngôi nhà rông khổng lồ với mái cao 35m. Trong nhà thờ treo 2 bộ cồng chiêng. Cầu thang và nhà Tạm thiết kế như chiếc gùi đi rẫy của đồng bào Tây Nguyên. Nhà thờ Cửa Nam (Lạng Sơn) khánh thành năm 2004 lại giống như ngôi nhà dài tám mái của người Nùng. Trần nhà thờ là bông hoa hồi cách điệu. Tòa để Thánh thư là chiếc chòi canh rẫy và tòa để Thánh thể lại thiết kế như ngôi nhà sàn… Nhiều nhà thờ kiến trúc theo triết lý của người Việt là “thiên địa nhân nhất thể” nên đâu cũng thấy núi nhân tạo, hồ, ao cây cảnh. Số gian nhà thờ cũng thường là 5, 7 hay 9 và chỗ ngồi cũng phân ra “ nam tả nữ hữu” như dân gian vẫn nói.</p>
<p>Chính nhờ văn hóa dân tộc thẩm thấu vào nên một tôn giáo xa lạ từ phương Tây đến như Công giáo đã trở thành một tôn giáo ngày càng gần gũi với người Việt có tên gọi là Công giáo Việt Nam.</p>
<p>Tóm lại, Công giáo và văn hóa Việt Nam đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và cùng làm cho nhau phong phú, đổi mới và phát triển hơn./.</p>
<ol>
<li>Phạm Huy Thông</li>
</ol>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/cong-giao-anh-huong-nhu-the-nao-den-van-hoa-dan-toc-viet-nam.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khám phá vài nét về tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-vai-net-ve-tin-nguong-ton-giao-cua-nguoi-cham.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-vai-net-ve-tin-nguong-ton-giao-cua-nguoi-cham.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:26:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tôn Giáo]]></category>
		<category><![CDATA[các tôn giáo ở việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo việt nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=73</guid>
		<description><![CDATA[Hiện nay, nước ta có khoảng mười ba vạn đồng bào Chăm, tiếng nói của dân tộc này rất gần tiếng nói của một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, như: Giarai, Raglay, Êđê và Churu, nó cùng hệ ngôn ngữ Aus tronesian (nhóm ngôn ngữ Malay &#8211; Polynesian). Đồng bào Chăm ở <a href="http://phongtuctapquan.com/kham-pha-vai-net-ve-tin-nguong-ton-giao-cua-nguoi-cham.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Hiện nay, nước ta có khoảng mười ba vạn đồng bào Chăm, tiếng nói của dân tộc này rất gần tiếng nói của một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, như: Giarai, Raglay, Êđê và Churu, nó cùng hệ ngôn ngữ Aus tronesian (nhóm ngôn ngữ Malay &#8211; Polynesian). </strong></p>
<p>Đồng bào Chăm ở nước ta hình thành ba nhóm tín ngưỡng chính là: tín ngưỡng tôn giáo bản địa cổ Bàlamôn, Chăm Bà ni (Hồi giáo Bà ni) và Chăm Islam (Hồi giáo Islam). Cũng có một bộ phận không nhiều không theo tôn giáo nào.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//%C4%90%E1%BA%B7c%20s%E1%BA%AFc%20l%E1%BB%85%20h%E1%BB%99i%20tr%C6%B0%E1%BB%9Fng%20th%C3%A0nh%20c%E1%BB%A7a%20thi%E1%BA%BFu%20n%E1%BB%AF%20Ch%C4%83m.jpg" alt="" width="397" height="283" /></div>
<p>Ngày xưa, đồng bào Chăm ở nước ta chủ yếu ở vùng duyên hải miền Trung, từ vĩ tuyến 18 đến vĩ tuyến 20°, tức từ phía Bắc Đồng Nai cho tới vùng đèo Ngang của tỉnh Quảng Bình ngày nay. Do quá trình vận động và biến đổi của lịch sử xã hội, cộng đồng người Chăm trôi dạt dần theo hướng Nam của đất nước, rồi sống quần cư ở các tỉnh vùng Nam Trung Bộ; một bộ phận khác sống ở một số tỉnh thuộc vùng miền Đông và miền Tây Nam Bộ &#8211; tập trung quanh vùng Châu Đốc, tỉnh An Giang ngày nay.</p>
<p>Đồng bào Chăm, còn gọi là người Chàm, là một trong số 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; là một dân tộc có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, rất đa dạng và phong phú. Một trong những cái đa dạng và phong phú của nền văn hóa ấy là người Chăm, một dân tộc có chữ viết sớm ở nước ta; truyền thống văn hóa ấy đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa, đậm đà bản sắc dân tộc của nền văn hóa Việt Nam. Bản sắc và truyền thống của văn hóa Champa biểu hiện đặc trưng cho lĩnh vực tín ngưỡng &#8211; tôn giáo, thông qua các sinh hoạt mang tính phong tục, lễ hội truyền thống và tín ngưỡng cổ của cộng đồng dân tộc này. Vì vậy, để tìm hiểu và nhận biết nét văn hóa đặc trưng của cộng động cư dân Chăm, từ nhiều thập niên qua nhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu không chỉ ở trong nước mà cả ở ngoài nước đã quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu… Tuy nhiên, phần lớn các nhà sử học, nhà nghiên cứu đều tập trung đi sâu nghiên cứu, khai thác về lĩnh vực lịch sử văn hóa và nghệ thuật điêu khắc Champa nói chung; chưa có những công trình nghiên cứu sâu và toàn diện về lĩnh vực tín ngưỡng &#8211; tôn giáo của cộng đồng cư dân Chăm. Để góp phần nghiên cứu tín ngưỡng &#8211; tôn giáo của cư dân Chăm ở Việt Nam, trong phạm vi bài viết này, xin chỉ tập trung nghiên cứu, trao đổi ba vấn đề trọng tâm, sau dây.</p>
<p><em>Một là,</em> nguồn gốc và loại hình tín ngưỡng của cộng đồng cư dân Chăm;</p>
<p><em>Hai là,</em> tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng đồng bào Chăm;</p>
<p><em>Ba la,</em> ảnh hưởng của tín ngưỡng Islam trong cộng đồng cư dân Chăm.</p>
<p>Tín ngưỡng dân gian truyền thống của người Chăm là niền tin vào những thần linh (Pô Yang). Với niềm tin vào tín ngưỡng đa thần, người Chăm quan niệm thiên nhiên và mọi vật thể xung quanh con người đều có linh hồn &#8211; tất cả đều có linh hồn và luôn luôn có mối quan hệ với con người. Hơn nữa, người Chăm coi cuộc sống sau khi chết “thế giới bên kia” mới là nơi linh hồn tồn tại mãi mãi. Vì vậy, trong cuộc sống họ luôn tôn thờ đấng tạo ra vũ trụ. Đấng ấy, được người Chăm gọi là ông Trời (Pô Yang Hit). Ngoài Pô Yang hit, họ còn có phong tục tin thờ hệ thống Pô Yang và các lễ hội truyền thống cổ khác.</p>
<p>Ngoài sự tin thờ các Pô Yang như đã nói trên đây, trong cuộc sống của mình đồng bào Chăm luôn luôn gắn bó với các thần linh và linh hồn của những người trong họ tộc đã chết. Bởi thế việc tín ngưỡng thần linh và thờ cúng ông bà, tổ tiên của người Chăm được xem là một tập tục, truyền thống đạo đức chiếm giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh của cộng đồng.</p>
<p>Từ ngàn xưa, cộng đồng cư dân Chăm vốn đã gắn bó với tín ngưỡng đa thần, nên họ quan niệm rằng trong cuộc sống hàng ngày của các Pô Yang không chỉ có mối quan hệ với con người, mà còn tác động, chi phối toàn bộ sinh hoạt của con người. Vì vậy, trong cuộc sống họ luôn luôn có niềm tin &#8211; con người muốn được các Po Yang phù hộ và che chở thì phải biết tin thờ các thần linh, nếu không tin thờ mà ngược lại làm “trái ý” các thần linh, thì con người ắt sẽ bị các thần linh trừng phạt. Từ nhận thức và quan niệm đó, nên trong cuộc sống thường ngày người Chăm thường khấn lễ, cầu xin sự cứu độ và che chở các thần linh, nhất là những lúc con người gặp hoạn nạn hoặc tai ương trong cuộc sống. Điều đó cho thấy tín ngưỡng thần linh nó phản ảnh sự hòa đồng giữa <em>con người &#8211; thiên nhiên &#8211; thần linh </em>và nó ràng buộc con người luôn luôn quan hệ với thần linh. Từ mối quan hệ “giao cảm” này, cũng có thể hiểu rằng tín ngưỡng thần linh cũng thuộc phạm trù tôn giáo, vì cả hai đều phản ảnh niềm tin vào thế giới siêu nhiên.</p>
<p><strong>Tín ngưỡng , tôn giáo của cộng đồng đồng bào Chăm</strong></p>
<p>Khi nói về tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc này, nhiều người trong chúng ta xác nhận rằng: tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng cư dân Chăm có một sắc thái riêng, rất đa dạng và phong phú, ngoài sự kết hợp hài hòa giữa Ấn Độ giáo với tín ngưỡng dân gian và lễ hội truyền thống mang tính bản địa của dân tộc Chăm, theo đó tính vượt trội của yếu tố dân tộc bao giờ cũng lớn hơn và mang tính bền vững hơn trong đời sống &#8211; xã hội của cộng đồng.</p>
<p>Như đã nói, tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng cư dân Chăm có một sắc thái riêng, theo đó tính vượt trội của yếu tố dân tộc bao giờ cũng lớn hơn. Tuy nhiên, một vấn đề khác nữa là nét đặc thù của dân tộc này còn có một đặc điểm mang tính nguồn gốc, được phỏng theo yếu tố tôn giáo mà xã hội loài người đã chia cộng đồng dân tộc Chăm thành bốn nhóm tín ngưỡng &#8211; tôn giáo khác nhau.</p>
<p><em>Nhóm thứ nhất,</em> là tín ngưỡng &#8211; tôn giáo bản địa cổ Bà la môn, còn gọi là Bà Chăm. Nhóm này, cư trú ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, thuộc vùng cực Nam Trung Bộ, với khoảng 46.000 người;</p>
<p><em>Nhóm thứ hai, </em>là Chăm Bàni, còn gọi là đạo Bàni hoặc Hồi giáo Bàni. Nhóm này, hiện cư trú tại ba tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Phước, với khoảng 39.500 người;</p>
<p><em>Nhóm thứ ba,</em> là người Chăm theo tín ngưỡng Islam, gọi là Chăm Islam hoặc Hồi giáo Islam (đạo Islam). Nhóm này, hiện cư trú ở khu vực miền Đông và miền Tây Nam Bộ, bao gồm các tỉnh: Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Trà Vinh, Kiên Giang và tập trung chủ yếu ở tỉnh An Giang, với khoảng 25.700 người &#8211; trong đó An Giang là 12.700 người;</p>
<p><em>Nhóm thứ tư,</em> là cộng đồng người Chăm không theo tín ngưỡng, tôn giáo nào, còn gọi là Chăm Roi. Cư ngụ ở các tỉnh: Phú Yên, Bình Định và Đắc Lắc, với khoảng 18.400 người.</p>
<p><strong>Trần Tiến Thành (Viện Tôn giáo)</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-vai-net-ve-tin-nguong-ton-giao-cua-nguoi-cham.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đền thờ An Biên tướng quân Hoàng Lục trên ngọn đồi Đoỏng Lình</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/den-tho-an-bien-tuong-quan-hoang-luc-tren-ngon-doi-doong-linh.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/den-tho-an-bien-tuong-quan-hoang-luc-tren-ngon-doi-doong-linh.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:26:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tôn Giáo]]></category>
		<category><![CDATA[các tôn giáo ở việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo việt nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=75</guid>
		<description><![CDATA[Đền thờ An Biên tướng quân Hoàng Lục &#8211; người có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, giữ vững biên cương phía Bắc dưới triều Lý, được nhà Lý phong “An Biên tướng quân” tọa lạc trên ngọn đồi Đoỏng Lình (linh thiêng) thuộc làng Chi Choi, xã <a href="http://phongtuctapquan.com/den-tho-an-bien-tuong-quan-hoang-luc-tren-ngon-doi-doong-linh.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong class="contentpagetitle">Đền thờ An Biên tướng quân Hoàng Lục &#8211; người có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, giữ vững biên cương phía Bắc dưới triều Lý, được nhà Lý phong “An Biên tướng quân” tọa lạc trên ngọn đồi Đoỏng Lình (linh thiêng) thuộc làng Chi Choi, xã Đình Phong (Trùng Khánh). Năm 2004, UBND tỉnh Cao Bằng ra quyết định xếp hạng Di tích đền Hoàng Lục.</strong></p>
<p align="center"><img title="title" src="/images/post/2016/01/01/23//Den%20tho%20An%20bien%20tuong%20quan%20Hoang%20Luc.jpg" alt="alt" width="554" height="415" /></p>
<p align="center"><span style="color: #0000ff; font-size: small;"><em>Nhân dân xã Đình Phong (Trùng  Khánh) tu sửa Đền thờ An Biên tướng quân Hoàng Lục. </em></span></p>
<p align="justify">Theo “Cao Bằng thực lục” của Bế Hữu Cung, Hoàng Lục sinh trưởng trong một gia đình khá giả, dân tộc Tày ở làng Lũng Đính, châu Thượng Lang, năm 18 tuổi được cử làm thổ tù. Hoàng Lục là người khảng khái, trọng nghĩa, khinh tài luôn đem tài sản chia cho dân nghèo, mọi người trong vùng đều quí mến ông.</p>
<p align="justify">Năm 1053 (thời Lý Thái Tông), trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất, Hoàng Lục phối hợp với Nùng Chí Cao chủ động đem quân đánh vào đất Tống, đột phá các châu: châu Quý, châu Uy, châu Khang, châu Đăng, châu Ngô, châu Đoan, châu Hình&#8230; gây thiệt hại lớn cho quân Tống. Quân của Hoàng Lục và Nùng Chí Cao đi đến đâu đều được nhân dân ủng hộ. Khi rút về nước, Hoàng Lục tiếp tục chuẩn bị lương thực, lực lượng để đối phó với quân Tống.</p>
<p align="justify">Năm 1076 (thời Lý Anh Tông), quân Tống tiến hành xâm lược Đại Việt lần thứ 2 với mục tiêu phá vỡ tuyến phòng thủ ở Quảng Nguyên. Viên tướng của nhà Tống lúc ấy tên là Quách Quỳ đánh giá: “Quảng Nguyên là cổ họng của Giao Chỉ, có binh pháp mạnh đóng ở đó. Nếu ta không đánh lấy thì khi ta đi sâu vào đất chúng, quân ta sẽ bị đánh cả ở mặt trước và mặt sau”.</p>
<p align="justify">Với nhận định của Quách Quỳ, trận đánh ở Quảng Nguyên có tính chất quyết định. Trấn giữ vùng Quảng Nguyên lúc này là Lưu Kỷ &#8211; một viên tướng có kinh nghiệm đánh vùng rừng núi của nhà Lý với 5.000 binh mã. Khi quân Tống dưới sự chỉ huy của Phó tướng Yên Đạt ồ ạt tấn công vào Quảng Nguyên đã gặp phải sự đánh trả quyết liệt của quân Hoàng Lục và Lưu Kỷ. Theo lưu truyền trong dân gian, chính khu vực đền thờ hiện nay là nơi Hoàng Lục lập trận địa để chặn bước tiến của quân xâm lược Tống. Dấu tích còn sót lại đến ngày nay là những ụ, thành đất hình chữ nhật, hình xoáy trôn ốc nằm rải rác dọc hai bên bờ sông Quây Sơn, cách đền khoảng 1km.</p>
<p align="justify">Hoàng Lục là một tướng giỏi có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, được triều đình nhà Lý phong chức An Biên tướng quân, thống lĩnh quân mã để bảo vệ biên cương phía Bắc. Sau khi ông mất, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của ông.</p>
<p align="justify">Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, việc xác định đền thờ Hoàng Lục được khởi dựng từ khi nào vẫn chưa được làm sáng tỏ, song kiến trúc còn lại của ngôi đền là hai gian nhà cấp 4 (kiểu chữ nhị) khá rộng với diện tích khoảng 100m<sup>2</sup>, vì kèo quá giang bằng gỗ, mái lập ngói âm dương, cửa đền quay ra hướng Nam, phía trên điện thờ có hoành phi ghi: Tư cách chi thần; Hai bên có hai câu đối “Thần uy nghiêm dực hành đất Tống/Thánh đức anh linh phổ Việt Thanh”. Gian tiền đường và hậu cung được ngăn cách bằng một bức tường dày. Theo các cụ cao niên trong vùng kể lại, trước đây trong đền có tượng Hoàng Lục bằng đồng, hai bên có tượng quan văn, quan võ bằng đất và chuông đồng, hậu cung có nhiều bệ thờ và bát hương, nhưng các hiện vật này đã bị thất lạc. Giá trị còn lại của ngôi đền chính là ở chất liệu xây dựng. Đền được đắp trình tường bằng đất sét trộn với mật mía rất công phu. Đến nay, các bức tường vẫn còn vững chắc, đặc biệt vẫn còn lưu giữ được 4 sắc phong của triều Nguyễn phong cho những người canh giữ đền đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh.</p>
<p align="justify">Ghi nhớ công lao của An Biên tướng quân Hoàng Lục, hằng năm cứ vào 14, 15 tháng Giêng nhân dân trong vùng lại mở hội lớn. Ngày 14, các nghi thức phần lễ được tiến hành, như: dâng lễ vật, đọc văn tế với nội dung ca ngợi công lao của Hoàng Lục đã có công gìn giữ vững chắc một dải biên cương của Tổ quốc; tiếp theo là cầu phúc, cầu lộc cho dân chúng một năm mới vạn sự tốt lành. Ngày 15, các trò chơi dân gian được diễn ra sôi nổi, như: tung còn, múa Kỳ lân, hát giao duyên&#8230; Đến mùa thu, khi mùa màng đã thu hoạch xong, người dân địa phương lại chọn ngày tốt mổ lợn, làm xôi dâng lên đền để tạ ơn.</p>
<p align="justify">Suốt một thời gian dài, lễ hội đền Hoàng Lục đã bị mai một. Những năm gần đây được sự quan tâm của Nhà nước và chính quyền địa phương lễ hội đền Hoàng Lục đã được khôi phục, mở rộng với qui mô lớn. Thời gian tổ chức được chuyển sang ngày 28 tháng 2 âm lịch hằng năm. Ngôi đền đã được đầu tư tôn tạo khang trang hơn do công sức của người dân địa phương và những tấm lòng hảo tâm. Về dự lễ hội đền Hoàng Lục, du khách sẽ được trải nghiệm nhiều điều thú vị từ cuộc sống của đồng bào nơi đây.</p>
<div class="clearfix" align="justify"></div>
<div class="author" align="right">
<p><strong>MÔNG VĂN BỐN</strong></p>
</div>
<p align="right"><em><strong>Nguồn: baocaobang</strong></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/den-tho-an-bien-tuong-quan-hoang-luc-tren-ngon-doi-doong-linh.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khám phá văn hóa Phật giáo trong cấu trúc văn hóa Việt Nam</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-van-hoa-phat-giao-trong-cau-truc-van-hoa-viet-nam.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-van-hoa-phat-giao-trong-cau-truc-van-hoa-viet-nam.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:25:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tôn Giáo]]></category>
		<category><![CDATA[các tôn giáo ở việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tín ngưỡng tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tôn giáo việt nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=76</guid>
		<description><![CDATA[Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng 2000 năm trước và chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc. ục đích của đạo Phật là tiến tới giải thoát con người khỏi vòng luân hồi để đến một trạng thái tuyệt đối. Đó <a href="http://phongtuctapquan.com/kham-pha-van-hoa-phat-giao-trong-cau-truc-van-hoa-viet-nam.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><span id="ctl06_ctl08_ctl00_ctl01_lblSource" class="contentpagetitle">Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng 2000 năm trước và chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc.</span></p>
<p align="justify">ục đích của đạo Phật là tiến tới giải thoát con người khỏi vòng luân hồi để đến một trạng thái tuyệt đối. Đó là cõi Niết Bàn. Muốn tới được Niết Bàn thì con người cần phải nhận thức rõ sự khổ đau của đời người tìm cách giải khổ qua Tứ diệu đế nhằm thoát khổ, giải thoát.</p>
<p>Điều quan trọng nhất của Phật giáo là dạy con người biết yêu thương chúng sinh và luôn hướng tâm nhằm giải khổ cho chúng sinh thoát khổ. Đạo Phật mở cho con người một đường đi để dẫn tới sự tự do, giải thoát. Với tư tưởng đó, đạo Phật đã có ảnh hưởng sâu sắc đến những quốc gia coi đạo Phật là nền tảng đạo đức con người. Đạo Phật vào Việt Nam từ sớm và nhanh chóng được nhân dân đón nhận. Trong lịch sử dân tộc, Phật giáo đã từng có giai đoạn trở thành quốc đạo, nhất là thời kỳ các triều đình phong kiến trọng dụng các vị tăng ni. Tín đồ, Phật tử của đạo Phật đã đồng hành cùng dân tộc trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Đến nay, đạo Phật vẫn giữ vai trò quan trọng đối với văn hoá, đạo đức, lối sống, tư tưởng của người dân Việt Nam. Tìm hiểu vai trò của Phật giáo trong cấu trúc văn hoá Việt Nam để thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa của Phật giáo trong đời sống văn hoá xã hội Việt Nam, góp phần xây dựng một xã hội đạo đức, văn minh, văn hoá.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//9-589af.jpg" alt="" width="460" height="280" /></div>
<div>1. Mối quan hệ giữa văn hoá Phật giáo với đời sống văn hoá ở nước ta</div>
<div>Phật giáo ở nước ta có vị thế đặc biệt so với các tôn giáo khác. Thời kỳ triều Lý &#8211; Trần là thời kỳ Phật giáo hưng thịnh nhất và trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, Phật giáo đã phát triển đồng hành cùng dân tộc với hai hình thức văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể của Phật giáo.</div>
<div>Về mặt đạo đức, Phật giáo khác với Khổng giáo, Nho giáo. Nếu như Khổng giáo cứng nhắc, khuôn phép, Đạo giáo lại mơ hồ, cởi mở quá mức thì Phật giáo đã biết kết hợp hài hoà giữa con người với thiên nhiên, với vũ trụ, nên Phật giáo có ảnh hưởng lớn đến tâm thức dân tộc.</div>
<div>Về mỹ thuật, kiến trúc: Phật giáo để lại những công trình kiến trúc đẹp và ghi lại quá trình lịch sử mỹ thuật, kiến trúc Phật giáo, có phong cách riêng trong nền mỹ thuật, kiến trúc Việt Nam. Những công trình kiến trúc Phật giáo nổi tiếng như: tháp Báo Thiên, tượng chùa Quỳnh Lâm, đỉnh Phổ Minh, chuông Quy Điền, chùa Pháp Vân ở tỉnh Bắc Ninh, chùa Một Cột ở thành phố Hà Nội, chùa Sùng Nghiêm ở thành phố Hà Nội, tượng Quán Thế âm Bồ Tát ở chùa Bút Tháp &#8211; tỉnh Bắc Ninh, Đại hồng chung chùa Cổ Lễ, tỉnh Nam Định… để lại một nét đặc sắc về mỹ thuật và kiến trúc tôn giáo của Việt Nam.</div>
<div>Về văn học nghệ thuật: Phật giáo có hệ thống in chữ của chùa, hệ thống các tác giả là bậc tăng ni tu hành theo đạo Phật và các Nho sỹ có ảnh hưởng của đạo Phật. Những điều đó đã góp phần vào nền văn học nghệ thuật nước nhà mang màu sắc Phật giáo nhưng trên nền tảng văn học nghệ thuật của dân tộc Việt Nam.</div>
<div>Về đạo đức, lối sống: Phật giáo đã thể hiện triết lý nhân sinh sống phải tu thân tích đức, làm điều thiện, điều lành, hướng con người tới ứng xử nhân văn, cao đẹp. Hình ảnh ông Bụt luôn xuất hiện trong những câu chuyện cổ tích dân gian phản ánh triết lý sống nhân duyên, nghiệp nhân quả “ở hiền gặp lành”.</div>
<div>Như vậy, Phật giáo Việt Nam đã được văn hoá hoá trở thành văn hoá Phật giáo trong nền văn hoá nước nhà. Nghiên cứu đạo đức Phật giáo để nhận thấy sự hình thành nhân cách, đạo đức con người Việt Nam trong thời đại hiện nay. Sự ảnh hưởng của Phật giáo thấm sâu vào người dân Việt Nam. Không chỉ riêng gì dân tộc Việt, các dân tộc (tộc người) khác trong cộng đồng các dân tộc anh em cũng thấy rõ ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn hoá con người, nhất là trong lĩnh vực tinh thần.</div>
<div></div>
<div>Chắc ai là công dân Việt Nam cũng đều nghe tiếng chuông chùa hoặc tiếng kinh, tiếng mõ của nhà chùa. Nhất là ở vùng đồng bằng thì mỗi làng xã ở Việt Nam đều có ngôi chùa Phật giáo. Hình ảnh mái chùa từ nhỏ đã thấm vào mỗi con người Việt Nam nên trong những dịp lễ hội như ngày Phật đản, ngày rằm tháng 7 Vu lan báo hiếu, ngày rằm trung thu hoặc ngày lễ tết của dân tộc, sân chùa là nơi tụ tập mọi người để chung vui. Chùa là nơi để thờ Phật, là chốn linh thiêng, thanh tịnh để tín đồ, Phật tử mỗi tháng hai lần dâng hương đăng hoa trà quả lễ Phật. Trước kia, những sản vật dâng lên cúng Phật xong thường được đem phát chẩn cho người nghèo khó. Như vậy, ngôi chùa truyền thống có ý nghĩa nhân văn rất lớn. Đó là nơi để người giàu có san sẻ với những người nghèo khó. Hiện nay, Phật giáo nước ta vẫn đang thực hiện được điều này góp phần cùng xã hội thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh và làm tốt công việc từ thiện, nhân đạo, cứu đói trợ nghèo để lại thiện tâm cho chúng sanh hướng đến cửa Phật.</div>
<div>Theo ngôn ngữ thì chữ “chùa” là chữ Nôm, chùa được ghi là bằng chữ “Trù”. Chùa là âm tiền Hán &#8211; Việt của chữ Trù. Trù có nghĩa là bếp, tiếng Hán hiện đại, trù phòng có nghĩa là nhà bếp, nơi ấm áp, yên bình nhất trong nhà mỗi gia đình. Suy rộng ra nghĩa là nơi nào ấm áp, yên bình nhất trong xã hội là chùa. Như vậy, chùa là nơi con người được san sẻ cả về tinh thần lẫn vật chất nên nó mang một ý nghĩa từ ngữ cao đẹp, nhân văn. Đến với chùa con người trở nên thư thái, tĩnh tâm cả về tâm hồn và thể xác hướng tới những điều thiện tâm, quên đi những khó khăn, khó nhọc của cuộc đời. Nên mỗi khi có công việc, có chuyện gì người Việt Nam vẫn có thói quen đi lễ chùa vừa vui cảnh người, vừa lấy lại thăng bằng về tinh thần trong cuộc sống hàng trăm mối lo toan gia đình, xã hội.</div>
<div>Chúng ta còn hay dùng khái niệm “chùa chiền”. Vậy, chùa chiền là chỉ chung những thắng cảnh Phật giáo. Theo âm Hán là “Triền” có nghĩa là chỗ ở của người dân nói chung. Như vậy, chùa chiền chỉ thắng cảnh nói chung. Trong đó, chùa là trung tâm của thắng cảnh đó. Theo tiếng Hán, chùa tương đương với chữ Tự, còn chiền tương đương với chữ Sát. Qua tìm hiểu về ngôn ngữ cho thấy văn hoá Phật giáo đã được nhân dân ta Việt hoá cao trở thành một bộ phận văn hoá của người Việt Nam. Tuy có vay mượn ngôn ngữ nhưng đã ý thức sử dụng theo văn hoá của người Việt, mang tư tưởng nhân văn của dân tộc Việt rất gần gũi với đời sống con người Việt Nam.</div>
<div></div>
<div>2. Ảnh hưởng của Phật giáo đến chính trị &#8211; xã hội</div>
<div>Phật giáo khi vào Việt Nam nhanh chóng được nhân dân đón nhận tin theo. Vào thời Đinh, Phật giáo bắt đầu được trọng dụng. Vua Đinh Tiên Hoàng khởi nghiệp lên ngôi vua thống nhất đất nước, đóng đô ở Hoa Lư. Vua đã mời tăng sư Ngô Chân Lưu trụ trì chùa Trấn Quốc, thành phố Hà Nội giúp vua làm mưu sỹ, tham dự công việc nội chính và ngoại giao. Đinh Tiên Hoàng tôn trọng Ngô Chân Lưu và phong ông là Khuông Việt Thái sư và giữ chức Tăng thống. Thời Tiền Lê có vị sư Đỗ Pháp Thuận làm mưu sỹ đắc lực cho vua Lê Đại Hành. Đến thời Lý, nhà sư Vạn Hạnh đã giúp vua trong việc chủ trương rời kinh đô ra Thăng Long và có nhiều đóng góp cho đất nước trong việc xây dựng và chống giặc ngoại xâm. Vua Lý Thái Tổ chủ trương phát triển Phật giáo cho xây dựng nhiều chùa chiền trong nước, sai sứ sang Trung Quốc thỉnh kinh Tam Tạng. Nhiều vị vua thời Lý đã tu hành theo Phật giáo như Lý Thái Tông theo thiền phái Vô Ngôn Thông; Lý Thánh Tông theo thiền phái Thảo đường, Lý Anh Tông và Lý Cao Tông cũng theo thiền phái Thảo đường thế hệ 3. Thời Lý có nhiều vị sư nổi tiếng đức cao, đạo trọng như Vân Phong, Khuông Việt, Thảo Đường, Thông Biện, Viên Học, Tinh Không, Không Lộ, Đạo Hạnh, Minh Không, Giác Hải. Đa số các vị sư này đều có nhiều công lao với đất nước được vua ban phong làm quốc sư. Dưới triều Lý, đạo Phật hưng thịnh nhiều chùa chiền và sư sãi rất đông nên chùa có tiềm lực kinh tế mạnh. Đường lối an dân, trị nước của các vị vua triều Lý đã ảnh hưởng lớn bởi triết lý từ bi của nhà Phật. Thời Lý, vua coi dân như con rất gần gũi và chăm lo đời sống nhân dân nên đã huy động được sự đoàn kết, nhất trí trong dân đánh thắng giặc ngoại xâm hùng mạnh, bảo vệ độc lập đất nước. Trong hai trăm năm trị vì, triều Lý trở thành triều đại oanh liệt trong lịch sử nước nhà.</div>
<div>Thời Trần, tinh thần Phật giáo lại được kế thừa với màu sắc mới. Vua Trần Thái Tông và vua Trần Nhân Tông trở thành những thiền sư tu hành theo phái Trúc Lâm đồng thời trở thành những vị vua tài giỏi. Thiền sư Phù Vân, thiền sư Huyền Quang trở thành những hoà thượng giúp các vị vua triều Trần dựng nước và giữ nước thành công. Tư tưởng Phật giáo nhập thế của các vị vua theo đạo Phật đã có ảnh hưởng sâu sắc trong dân chúng, giúp con người hướng thiện, góp phần ổn định xã hội. Về mặt tôn giáo, điều đó làm cho Phật giáo phát triển thể hiện sự gắn bó giữa đạo với đời một cách chặt chẽ. Trần Nhân Tông được tín đồ Phật giáo gọi là Phật hoàng Trần Nhân Tông để thể hiện sự tôn kính của con người vừa là vua, vừa là người sáng lập, đệ nhất tổ của Thiền phái Trúc Lâm. Trần Nhân Tông trở thành tấm gương sáng trong lịch sử nước nhà thời Đại Việt đã lãnh đạo đất nước thắng lợi trong hai lần chống quân Nguyên Mông xâm lược, giữ vững chủ quyền dân tộc. Trần Nhân Tông lấy đạo pháp như một phương tiện để phục vụ dân tộc.</div>
<div>Cả hai thời Lý &#8211; Trần đều lấy Phật giáo là chủ đạo về tâm linh với tinh thần văn hoá quốc gia, các vị vua đã đưa Phật giáo vào đời sống đạo đức, chính trị, xã hội của quốc gia và của chính triều đại mình.</div>
<div>Như vậy, tư tưởng Phật giáo đã gần gũi với tư tưởng của các triều đại phong kiến nước nhà, lấy tư tưởng của Phật giáo để làm nền tảng trị nước an dân và đã có những kết quả tốt đẹp trong quá trình dựng nước và giữ nước. Đặc biệt là, dưới triều đại Lý &#8211; Trần, Phật giáo có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống và đời sống chính trị lúc bấy giờ. Phật giáo đã hoà mình với dân tộc, gắn bó với dân tộc, các thiền sư đã xuất gia nhưng vẫn nhập thế để giúp đời, giúp nước, giúp dân bằng trí tuệ, hiểu biết của mình góp phần đắc lực vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc.</div>
<div></div>
<div> 3. Phật giáo với đạo đức truyền thống dân tộc</div>
<div>Với tư tưởng đạo đức từ bi hỉ xả, bình đẳng vô ngã, vị tha, Phật giáo vào Việt Nam với tinh thần hoà đồng với các tôn giáo, tín ngưỡng và trở thành một trong những bộ phận của văn hoá dân tộc. Tư tưởng thương yêu, vị tha, bác ái của đạo Phật đã trở thành sức mạnh và động lực liên kết các dân tộc, công dân Việt Nam trong quá trình đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước. Sự từ bi, khoan dung của đạo Phật cùng với tinh thần yêu nước, nhân văn của dân tộc trở thành chủ nghĩa yêu nước cao đẹp. Tinh thần cứu khổ, cứu nạn là tinh thần hi sinh vì đồng loại vì cộng đồng để bảo vệ xóm làng, bảo vệ Tổ quốc trước giặc ngoại xâm. Lòng yêu nước đã trở thành giá trị hàng đầu trong thước đo giá trị của phẩm chất con người Việt Nam. Đạo đức Phật giáo trong triều đình phong kiến được các vị vua quan tâm nên hàng ngày phải trau dồi, lắng nghe ý kiến của nhân dân. Các vị vua nhà Lý sống cuộc đời đạo hạnh, yêu nước, thương dân và trọng đạo, mến Phật thể hiện đức hiếu sinh và triết lý từ bi của đạo Phật.</div>
<div>Đạo Phật trở nên rất gần gũi với người dân Việt Nam, triết lý Phật giáo nói về sinh lão bệnh tử của con người theo sự hợp lý của quy luật tự nhiên mà con người nhận thấy. Đạo Phật dạy con người phải biết từ bi, sống không có thù hận, oán hờn, hướng con người đến cái tâm và theo nếp nghĩ của người Việt “ở hiền gặp lành”, “ác giả, ác báo”, “nhân nào quả ấy”… Triết lý đó tưởng là kinh nghiệm của cuộc sống, của cha ông nhưng thực ra đó là triết lý nhân quả của đạo Phật. Nếu như đạo đức Nho giáo rất khuôn phép chỉ dành cho tầng lớp trên, biết chữ thánh hiền thì Phật giáo lại gần gũi hướng tới những người bình dân, với nghi thức, triết lý giản dị, dễ hoà nhập vào cuộc sống. Như vậy cho thấy đạo đức Phật giáo phù hợp với đạo đức con người Việt Nam, là sự hoà hợp giữa đạo và đời, giữa tư tưởng đạo đức Phật giáo với tính cách đạo đức con người Việt Nam.</div>
<div></div>
<div>Tiểu kết</div>
<div>Ngay từ buổi đầu du nhập vào Việt Nam, Phật giáo dễ dàng hoà nhập với tín ngưỡng truyền thống Việt Nam và được bản địa hoá để trở thành tôn giáo phổ biến của người Việt, làm phong phú thêm nền văn hoá dân tộc, có vai trò quan trọng tạo nên cấu trúc văn hoá Việt Nam.</div>
<div>Với triết lý từ bi, bình đẳng khuyến khích con người theo cái thiện, loại trừ cái ác, Phật giáo dễ dàng chinh phục lòng người. Phải chăng con người Việt Nam sẵn có lòng khoan dung, đức độ, nhân ái khi gặp được đạo Phật với triết lý tư tưởng gần gũi với dân tộc nên được đón nhận mạnh mẽ và trở thành một trong những tôn giáo lớn tại Việt Nam. Chính điều này đã được lịch sử dân tộc chứng minh khi các vị vua đứng đầu một quốc gia lại mượn tư tưởng của Phật giáo để cai trị, điều hành đất nước. Vai trò và ảnh hưởng của Phật giáo trong thời kỳ độc lập tự chủ dân tộc đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước. Đạo đức Phật giáo được sử dụng trở thành chuẩn mực về đạo đức con người Việt Nam. Ngay cả những vị vua thời Lý &#8211; Trần cũng xuất gia tu hành theo đạo Phật. Hình ảnh các vị vua theo đạo Phật làm ảnh hưởng sâu sắc đến quần chúng nhân dân và họ đã lựa chọn cho mình một tôn giáo phù hợp với điều kiện tu hành, phù hợp với lối sống, văn hoá dân tộc đồng thời cũng mang bản sắc văn hoá Việt Nam. Đó là tu hành nhưng vẫn nhập thế giúp đời, giúp vua trị nước an dân. Tầng lớp tăng ni đã góp phần không nhỏ trong việc tham mưu cho các quan và vua thời Lý &#8211; Trần trong việc triều chính. Họ trở thành những vị sư có công lao gây dựng Phật giáo phát triển.</div>
<div>Ngày nay, Phật giáo Việt Nam vẫn giữ được truyền thống theo văn hoá dân tộc. Tuy nhiên, trước những tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự phát triển nhanh về kinh tế, xã hội đã có những biến đổi trong văn hóa dân tộc và ảnh hưởng nhất định đến Phật giáo./.</div>
<div>Hoàng Minh Thiện</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-van-hoa-phat-giao-trong-cau-truc-van-hoa-viet-nam.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
