<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Phong Tục Tập Quán - Phong Tục Việt Nam - Việt Nam - Nước Việt &#187; phong tục tết cổ truyền</title>
	<atom:link href="http://phongtuctapquan.com/tag/phong-tuc-tet-co-truyen/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://phongtuctapquan.com</link>
	<description>phongtuctapquan.com</description>
	<lastBuildDate>Thu, 11 Apr 2019 10:55:33 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>Tục ăn trầu &#8211; Yêu nhau ăn miếng trầu say</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/tuc-an-trau-yeu-nhau-an-mieng-trau-say.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/tuc-an-trau-yeu-nhau-an-mieng-trau-say.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:27:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phong Tục Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[các phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[cúng tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[lễ hội ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[tết cổ truyền của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tết của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tet nguyen dan cua viet nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=13</guid>
		<description><![CDATA[Dân quê đã trồng cau trầu và có tục ăn trầu từ cách đây mấy ngàn năm, xuất phát từ ý nghĩa của một câu chuyện cổ. Câu chuyện trầu cau không rõ thực hư nhưng từ lâu dân quê vẫn xem cau &#8211; trầu &#8211; đá vôi là biểu trưng của tình cảm yêu <a href="http://phongtuctapquan.com/tuc-an-trau-yeu-nhau-an-mieng-trau-say.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Dân quê đã trồng cau trầu và có tục ăn trầu từ cách đây mấy ngàn năm, xuất phát từ ý nghĩa của một câu chuyện cổ. Câu chuyện trầu cau không rõ thực hư nhưng từ lâu dân quê vẫn xem cau &#8211; trầu &#8211; đá vôi là biểu trưng của tình cảm yêu thương thắm thiết giữa anh em, chồng vợ và sự keo sơn, hòa thuận của gia đình.</p>
<p>Ở quê, mỗi nhà thường trồng trước sân và ngoài vườn một vài cây cau thẳng và cao quá nóc. Người dân gọi đó là cau liên phòng vì lúc trèo lên ngọn có thể dõi xa trăm mét, quan sát được người ra vào làng phòng khi giặc dã, hỏa hoạn tri hô ứng cứu.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//Mieng-trau-la-dau-cau-chuyen.jpg" alt="" width="400" height="299" /></div>
<p>Cau là cây thân gỗ, lá xanh hình lông vũ, hoa dạng buồng chùm trắng ngà thơm ngọt, quả to như trái trứng xanh về già đỏ hồng. Từ đầu xuân, cau bắt đầu trổ hoa và cứ vài ba tháng lại đơm hoa một lần. Vào đêm khi gió lay mạnh, cánh hoa rơi đầy mặt đất. Cây rất sai quả, mỗi buồng có bao nhiêu bông thì đậu bấy nhiêu quả, chí ít cũng lên hàng trăm. Vì quả sai như vậy nhiều khi người dân cứ để chúng chín lủng lẳng trông như một trái tim non đẹp mắt.</p>
<p>Trong những cây ăn quả vườn quê, cau là cây thân trơn, đơn nhánh và cao độc nhất khi hái hoa và quả phải leo trèo mới được. Người già ngại độ cao thường bắc thang lấy câu liêm chọc móc. Song lũ trẻ dẻo xương giỏi trèo thì chỉ một chốc đã leo tới ngọn và dùng dao cứa buồng buộc dây ròng xuống. Sau khi trảy cau, dân quê thường lựa những quả tròn bóng đẹp giữ nguyên buồng đem bán, còn dành quả xấu bổ ra ăn hoặc phơi khô tích trữ dùng dần. Quả cau được tước vỏ rồi bửa làm đôi, tư, sáu, tám, mười miếng trải đều phơi nắng. Để miếng cau khô có màu hồng thắm, nhiều nơi thường nấu nước cau, chọn quả cau già vỏ đỏ, hạt nâu kết hợp với rễ đay sắc thành nước hồng phun vào mảnh cau khô, dưới nắng nước hồng sẽ ngấm vào da thịt cau trắng và còn cho mùi hương ngọt ngào.</p>
<p>Trong cây cỏ vườn quê, cau cũng là một loại hữu dụng nhất. Người ta dùng gần như mọi bộ phận của cau, không bỏ phần nào. Dùng gỗ cau có màu đỏ, dai chắc xây dựng chuồng trại. Lấy tàu lá bện chổi, mo cau non bó cơm hay cuộn thức ăn, mo cau già làm quạt và ván chơi trong trò vui tuổi nhỏ. Do hoa cau đẹp và thơm, phụ nữ thường hái hoa trang trí cho thơm cửa thơm nhà. Cũng hay vun những bông rụng ngoài thềm đun nước tắm hoặc lồng vào ruột gối lấy hương thơm giúp giấc ngủ đằm sâu và mang theo mình như một túi hương khiến thân thể thơm tho. Trẻ con thường bốc hoa cau chơi đồ hàng vo gạo thổi cơm. Mọi nhà đều ăn quả cau và dùng cau cúng bái. Trong quả cau có nhiều chất xơ, chất thơm kháng khuẩn, bảo vệ răng miệng, chữa được chứng chốc đầu, rong kinh, viêm tấy&#8230; Ngay cả khi buồng cau đã vặt trụi trơ những cái cọng cong vút vẫn có ích. Cùng với mo cau khô, trẻ quê thường cưỡi cọng cau giả vờ cưỡi trâu -một em ngồi lên các em khác hò nhau kéo bạn lê thê. Những đêm hè nóng bức, những hàng cau luôn tỏa bóng mát êm dịu, ai nấy đều thích vác chõng, mắc võng dưới gốc cây ăn cơm, đọc sách, nghe gió thổi lộng qua tàu lá mát rượi và hít hà làn hương hoa trong lành, tinh khiết.</p>
<p>Bên hàng cau luôn thấy những dây trầu đong đưa, vắt vẻo. Ở quê, mọi nhà đều trồng trầu áp lên thân cau hoặc vắt vào bờ rào, vách tường, nóc mái cho cây bám thành giàn. Trầu là cây thân thảo leo rất cao nên còn được gọi là trầu không. Cây có lá hình tim mọc so le màu xanh với nhiều nếp nhúm, hoa dạng đuôi sóc màu trắng, quả tròn xanh li ti. Vì là cây sống đời, trầu rất dễ mọc và bò lan rậm rạp, chỉ cần lấy một đoạn thân vùi xuống đất sau vài ba hôm đã nảy chồi. Tuy nhiên, cây mọc tốt nhất ở gò cao không ngập nước, mặn, kiềm. Mùa hè, cây ra lá và đẻ nhánh cực khỏe. Sau khoảng ba tháng, kể từ lúc bén rễ trầu đã leo cao vài mét. Lúc này có thể thu hái song nhiều người thường gác lại một năm để thu hoạch đại trà.</p>
<p>Cũng giống cau, trầu có vô số công dụng. Cây mọc sum suê cho bóng mát và những khoảng không xanh tĩnh ở sân, vườn, cổng, ngõ, vách, mái nhà dân. Lá trầu mềm, mọng nước, hơi cay làm được thức ăn, gia vị. Nhiều người thường hái lá trầu ăn vui miệng. Trong lá trầu cũng có chất chống sâu răng, ngoài ra còn có thể sát trùng, tiêu độc, giảm đau, nhuận tràng, lợi tiểu&#8230; Tùy sở thích người ta ăn lá non &#8211; lá có màu xanh nõn hơi vàng (trầu vàng), ăn lá già có màu đậm, dày đã phát triển trọn vẹn (trầu xanh). Song theo dân gian ăn ngon nhất là khi lá trầu hãy còn non nên mọi người đều hái lá ngay khi lá to vừa độ và xếp nhẹ nhàng, ngay ngắn mặt lá úp, cuống lá chổng, lá này chồng lên lá kia vừa tiện cầm vừa tránh bầm dập những gân mỏng.</p>
<p>Mời trầu &#8211; nét duyên của người quan họ</p>
<p>Dân quê đã trồng cau trầu và có tục ăn trầu từ cách đây 4000 năm, xuất phát từ ý nghĩa của một câu chuyện cổ. Câu chuyện trầu cau không rõ thực hư nhưng từ lâu dân quê vẫn xem cau &#8211; trầu &#8211; đá vôi là biểu trưng của tình cảm yêu thương thắm thiết giữa anh em, chồng vợ và sự keo sơn, hòa thuận của gia đình. Vì cau vươn thẳng, không sợ gió bão năm nào cũng ra hoa đậu quả, người dân cũng xem cây là biểu tượng của lòng chính trực và người quân tử. Vì trầu quấn quýt không rời, lá như trái tim xao động cây cũng là biểu tượng của sự bao dung và người thục nữ. Cả hai cùng xanh rờn nổi bật giữa bao la trời đất tượng trưng cho sự an lạc và tuổi xuân. Nhà nào cũng trồng cau trầu bên giếng nước, hồ ao chỗ này vồng cau, chỗ kia luống trầu khăng khít, giao hòa. Đầu mùa bao giờ cũng vậy, người ta lại biện lễ gồm ít nhất một chẽ cau, ba lá trầu phết vôi và một khúc vỏ cúng dường báo thiên cây tốt vật thịnh, xóm làng êm ấm.</p>
<p>Mọi người thường nói ăn trầu hay xơi một miếng trầu, nhưng thực tế đó là ăn trầu với cau, vôi, rễ quạch (vỏ chay, sen, đa hoặc quế), đôi khi kèm thêm vài sợi thuốc lá. Do ba thứ kết hợp sẽ tiết ra chất nước đỏ hồng làm môi đỏ má thắm và đặc biệt giúp răng chắc khỏe lâu ngày sẫm lại đen nhánh; các chất trong đó cũng giúp chữa trị nhiều chứng bệnh thường gặp như đau đầu, nhức mỏi, tức ngực khó thở, mỡ máu, táo bón, u buồn,&#8230; Dân quê thường ăn trầu làm đẹp, chữa bệnh, lấy nước nhuộm quần áo, tô vẽ và thể hiện những quan niệm tinh tế về cuộc sống.</p>
<p>Theo triết lý dân gian “miếng trầu là đầu câu chuyện” nên trước mọi cuộc giao tiếp, trao đổi nhất nhất cứ phải mời trầu, ăn trầu đã. Mọi người ăn trầu nhằm cởi mở, thân thiện với nhau hơn. Ăn vào khiến người rạo rực, cười nói tự nhiên. Mọi người ăn trầu cũng để hòa thuận, đoàn kết, đối xử công minh. Ai cũng có thể ăn, không ăn thì cầm lấy. Khi rảnh rang, người ta lại sang nhà nhau xơi một khẩu trầu, uống ngụm trà thuốc. Vừa ăn vừa trò chuyện tăng thêm tình nghĩa xóm giềng. Mỗi người cũng dùng miếng trầu làm tín vật trao gửi, hàn gắn và vun vén tình cảm với quan niệm khi đã nhận miếng trầu là đã đón nhận tấm lòng của nhau, có điều gì hiềm khích đều vui vẻ tha thứ, nhân dịp này hòa giải bày tỏ lòng kính trọng, hiếu đễ, biết ơn hay tạ lỗi, với nam nữ đang tìm hiểu thì điều ấy có nghĩa cô gái hoặc chàng trai đã chấp thuận lời tỏ tình của nhau. Vì lẽ đó, cau trầu là đồ lễ quan trọng có mặt trong mọi nghi lễ từ lễ cúng đình chùa, giỗ chạp, cưới hỏi, tang ma, mừng thọ, mừng nhà mới đến chuyện tiếp khách, gặp gỡ bạn bè hàng ngày ở gia đình.</p>
<p>Đặc biệt, cau trầu luôn gắn với phong tục cưới hỏi cổ truyền của dân quê. Đầu tiên theo lễ tục, chàng trai phải mang cơi trầu đến ra mắt cha mẹ cô gái, xin phép hai vị cho anh được tìm hiểu con gái họ gọi là lễ vấn danh, kế đó nhà trai mang cơi trầu đến nhà gái xin kết thông gia cho hai gia đình qua lại thân mật &#8211; lễ dạm ngõ rồi tới các lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễ đón dâu, lễ nhập gia, lễ động phòng&#8230;</p>
<p>Theo tục thách cưới, nhà trai phải mang đến nhà gái từ 100 tới 1000 quả cau, cá biệt có nơi như trong thơ Nguyễn Bính: Nhà gái ăn chín nghìn cau, tuy có thể chỉ là con số ước lệ song cho thấy đây là sính lễ quan trọng nhất trong các vật cầu hôn và là vật giao ước giữa hai dòng họ. Trong cơi lễ ăn hỏi, quả cau phải tròn có lớp vỏ xanh bóng, cuống râu xù xòa, nâu đen như râu ông già. Lá trầu phải xanh, to đều, không một vết thâm bầm. Cả hai được đặt trên những mâm son phủ khăn điều dán chữ hỷ thể hiện cho ước mong bách niên giai lão (hạnh phúc trọn đời). Sau khi nhà trai mang cơi lễ đến nhà gái xin dâu, nhà gái sẽ bổ cau trầu từ đó đem biếu thân quyến, xóm giềng mời mọi người đến chung vui trong ngày cưới của đôi trẻ. Vào ngày hợp hôn và trong lễ rước dâu từ nhà cha mẹ đẻ đến nhà chồng, chính cô dâu chú rể cũng phải bưng khay trầu và thuốc mời các cụ cao lão trong dòng họ, làng xóm xin các vị chứng giám cho duyên lành. Giúp đôi uyên ương dọc đường về nhà trai, còn có các phù dâu phù rể ăn vận xinh đẹp  bưng trên tay 100 miếng trầu, vừa đi vừa mời quan khách thưởng thức và chúc mừng đôi tân nương tân lang. Nam nữ trước khi động phòng thường ăn miếng trầu với niềm tin về một tình duyên bền vững, hạnh phúc, son sắt không rời cũng để thân thể thơm tho, ấm áp, hơi thở nồng nàn, dễ chuyện ân ái.</p>
<p>Tùy nơi người ta ăn trầu cùng lúc song thường là sau khi đã nhai dập miếng cau thì mới ăn đến trầu, mảnh vỏ và vôi. Mỗi thành phần trong đó có một sự khác nhau. Miếng cau cho vị đắng và mát. Khẩu trầu cho vị cay và ấm. Vỏ cho vị chát và the. Vôi cho vị mặn và nồng. Cộng lại cho sự say mê. Mỗi thứ một màu và từ xanh, vàng, hồng, trắng chịu mọi đớn đau, bầm dập để cùng cho một sắc đỏ thắm như dòng máu. Để không bị say, nhiều người phải tập ăn trầu từ bé và khi đã mê hương vị cau trầu sẽ không bao giờ dứt ra nổi. Nó giống như một chất kích thích ăn ngon ngủ yên, làm việc hăng hái, thiếu vắng sẽ cảm thấy nhạt nhẽo, vô vị.</p>
<p><strong>Chu</strong><strong> </strong><strong>Mạnh Cường</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/tuc-an-trau-yeu-nhau-an-mieng-trau-say.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nghi lễ ăn hỏi (lễ đính hôn) của người Việt</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/nghi-le-an-hoi-le-dinh-hon-cua-nguoi-viet.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/nghi-le-an-hoi-le-dinh-hon-cua-nguoi-viet.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:27:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phong Tục Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[các phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[cúng tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[lễ hội ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[tết cổ truyền của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tết của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tet nguyen dan cua viet nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=17</guid>
		<description><![CDATA[Lễ ăn hỏi còn được gọi là lễ đính hôn là một nghi thức trong phong tục hôn nhân truyền thống của người Việt. Đây là sự thông báo chính thức về việc hứa gả giữa hai họ. Là giai đoạn quan trọng trong quan hệ hôn nhân: cô gái trở thành &#8220;vợ sắp cưới&#8221; <a href="http://phongtuctapquan.com/nghi-le-an-hoi-le-dinh-hon-cua-nguoi-viet.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Lễ ăn hỏi còn được gọi là lễ đính hôn là một nghi thức trong phong tục hôn nhân truyền thống của người Việt. Đây là sự thông báo chính thức về việc hứa gả giữa hai họ. Là giai đoạn quan trọng trong quan hệ hôn nhân: cô gái trở thành &#8220;vợ sắp cưới&#8221; của chàng trai, và chàng trai sau khi mang lễ vật đến nhà gái là đã chính thức xin được nhận làm rể của nhà gái và tập gọi bố mẹ xưng con.</strong></p>
<p><strong>T</strong>rong lễ ăn hỏi, nhà trai mang lễ vật tới nhà gái. Nhà gái nhận lễ ăn hỏi tức là chính danh công nhận sự gả con gái cho nhà trai và kể từ ngày ăn hỏi, đôi trai gái có thể coi là đôi vợ chồng chưa cưới, chỉ còn chờ ngày cưới để công bố với hai họ.<br />
<strong>Thành phần tham gia</strong></p>
<p>Nhà trai: chú rể, bố mẹ, ông bà, gia đình,bạn bè và một số thanh niên chưa vợ bê tráp. Thường thì người bê tráp là nữ nhưng do mâm quả bây giờ khá nặng nên có thể thay thế bằng nam. Số người bê tráp là số lẻ, 3, 5, 7, 9 hoặc 11.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//y-nghia-le-an-hoi-trong-nghi-thuc-cuoi-truyen-thong-06.jpg" alt="" width="557" height="393" /></div>
<p>Nhà gái: cô dâu, bố mẹ, ông bà, gia đình và một số nữ chưa chồng để đón lễ ăn hỏi, số nữ đón lễ vật tương ứng với số nam bưng mâm.</p>
<p><strong>Lễ vật</strong></p>
<p>Những gia đình xưa thường dùng bánh cặp nghĩa là gồm hai thứ bánh tượng trưng cho âm dương. Những cặp bánh thường dùng trong lễ ăn hỏi là bánh phu thê và bánh cốm, Bánh phu thê tượng trưng cho Dương &#8211; bánh cốm tượng trưng cho Âm. Hoặc bánh chưng và bánh dày, bánh chưng vuông là Âm &#8211; bánh dày tròn là Dương. Cùng kèm với bánh chưng và bánh dày thường có quả nem. Bánh cốm, bánh xu xê, bánh chưng, bánh dày và quả nem dùng trong lễ ăn hỏi đều được đựng trong hộp giấy màu đỏ hoặc bọc trong giấy đỏ, màu đỏ chỉ sự vui mừng. Cũng có gia đình thay vì các thứ bánh trên, dùng xôi gấc và lợn quay.<br />
Đó là những lễ vật tối thiểu theo tục lệ cổ truyền; tất nhiên, chất lư ợng và số lượng thêm bớt thì tùy thuộc vào năng lực kinh tế của từng gia đình. Theo phong tục người Hà Nội truyền thống thường có lợn sữa quay, còn theo phong tục miền Nam có thể có một chiếc nhẫn, một dây chuyền hay bông hoa tai đính hôn. Tuy nhiên, số lượng lễ vật nhất thiết phải là số chẵn tượng trưng cho có đôi có lứa, nhưng lễ vật đó lại được xếp trong số lẻ của tráp &#8211; số lẻ tượng trưng cho sự phát triển.</p>
<p>Lễ vật dẫn cưới thể hiện lòng biết ơn của nhà trai đối với công ơn dưỡng dục của cha mẹ cô gái. Nói theo cách xưa là: nhà trai bỗng dưng được thêm người, còn nhà gái thì ngược lại, &#8220;Con gái là con người ta&#8221;. Mặt khác, lễ vật cũng biểu thị được sự quý mến, tôn trọng của nhà trai đối với cô dâu tương lai.</p>
<p>Trong một chừng mực nào đó, đồ dẫn cưới cũng thể hiện thiện ý của nhà trai: xin đóng góp một phần vật chất để nhà gái giảm bớt chi phí cho hôn sự. Tuy nhiên, điều này ngày nay càng lúc càng trở nên mờ nhạt xét về vai trò, vì dễ dẫn đến cảm giác về sự gả bán con, thách cưới.</p>
<p><strong>Rước lễ vật</strong></p>
<p>Tất cả các lễ vật phải được sắp xếp gọn gàng và thẩm mỹ. Và nhất thiết phải được bày vào quả sơn son thếp vàng (hay mâm đồng đánh bóng, phủ vải đỏ). Có như thế mới nhấn mạnh được tính biểu trưng của lễ vật. Xưa, người đội lễ phải khăn áo chỉnh tề, thắt dây lưng đỏ. Nay, các cô gái đội lễ đã có áo dài đỏ thay thế nên không cần phải dùng thắt lưng đỏ nữa. Dù dùng phương tiện đi lại là: ô tô, xích lô, xe máy, hay đi bộ thì đoàn ăn hỏi cũng nên dừng lại cách nhà gái khoảng l00m, sắp xếp đội hình, rồi mới đội lễ vào nhà gái. Đây thực sự là một hình thái văn hóa dân tộc</p>
<p><strong>Tiếp khách</strong></p>
<p>Vì đây là một lễ trọng nên nhà gái phải chuẩn bị chu đáo hơn lễ chạm mặt. Tuy nhiên, do nội dung chủ yếu của lễ này là sự bàn bạc cụ thể, chính thức của hai gia đình về việc chuẩn bị lễ cưới, nên nhà gái không bày tiệc mặn mà chỉ bày tiệc trà. Ngày nay hầu hết các gia đình gái đều chuẩn bị tiệc mặn để thết đãi gia đình trai mong tạo hòa khí gắn bó và hàn huyên. Nghi thức trao nhận lễ vật cũng nên trở thành nghi thức bắt buộc.</p>
<p><strong>Nhà gái</strong></p>
<p>Nhà gái nhận lễ rồi đặt một phần lên bàn thờ gia tiên. Khi lễ ăn hỏi xong, bánh trái, cau, chè được nhà gái &#8220;lại quả&#8221; (chuyển lại) cho nhà trai một ít, còn nhà gái dùng để chia cho họ hàng và người thân.</p>
<p>Lưu ý: đối với cau thì phải xé chứ không được dùng dao để cắt. Khi nhà trai nhận lại tráp để bê về thì phải để ngửa, không được úp tráp lại.</p>
<p><strong>Cô dâu</strong></p>
<p>Phải ngồi trong phòng cho đến khi nào chú rể vào đón hoặc cha mẹ gọi mới được ra. Ra mắt tổ tiên bằng cách thắp hương lên bàn thờ. Sau đó cô dâu sẽ cầm ấm trà đi từng bàn để rót nước mời khách.</p>
<p><strong>Biếu trầu</strong></p>
<p>Đại diện nhà gái chuẩn bị đón tiếp nhà trai trong lễ ăn hỏi, các cô gái nhận tráp lễ vật mặc áo dài màu đỏ.</p>
<p>Xưa, sau lễ ăn hỏi, nhà gái dùng các lễ vật nhà trai đã đưa để chia ra từng gói nhỏ để làm quà biếu cho họ hàng, bè bạn, xóm giềng,&#8230; Ý nghĩa của tục này là sự loan báo: Cô gái đã có nơi có chỗ.</p>
<p>Trong việc chia bánh trái, cau, chè phải chia theo số chẵn, nhưng kiêng chia hai quả, nghĩa là mỗi nơi từ bốn quả cau, bốn lá trầu trở lên. Con số chẵn là số dương, số lẻ là số âm dùng trong việc cúng lễ.</p>
<p>Theo lối mới bây giờ, cũng chia bánh trái, thường có kèm theo những tấm thiếp của đôi bên hai họ báo tin đính hôn của đôi trẻ. Nếu ngày nghênh hôn không xa ngày hỏi, trong thiếp sẽ ghi rõ lễ cử hành vào ngày nào. Trong trường hợp này có khi cùng với thiếp &#8220;báo hỷ&#8221; lại có thiếp mời tiệc cưới.</p>
<p><strong>Trang phục</strong></p>
<p>Trong lễ ăn hỏi, các cô gái đỡ tráp mặc áo dài màu đỏ.</p>
<p>Trang phục cho cô dâu: một bộ áo dài, vừa có thể mặc trong lễ cưới, vừa có thể mặc ở những dịp lễ hội sau này. Có thể sắm cho cô dâu tương lai những đồ trang sức sau: xuyến, vòng, hoa tai.Chú rể mặc comple, cà vạt.</p>
<p><strong>Chia lễ</strong></p>
<p>Nhà gái thường nhờ các cô gái trong họ hoặc bạn bè chia giúp. Khi nhà trai dẫn lễ ăn hỏi tới nhà gái, nhà gái thường làm cơm thiết đãi. Sau lễ ăn hỏi đôi bên kể là giao kết gắn bó với nhau rồi. Tuy vậy, ngày xưa các cặp vị hôn phu và hôn thê cũng không được phép gặp nhau, trừ trường hợp đặc biệt lắm đôi bên cha mẹ mới cho phép. Phong tục ngày nay đổi khác, sau lễ ăn hỏi đôi trai gái thường gặp nhau luôn. Từ lễ ăn hỏi đến lễ cưới, xưa kia có khi hàng hai ba năm, nhưng ngày nay thời gian đó thường được rút ngắn, có khi chỉ vài ba ngày.</p>
<p>Các cụ xưa vẫn khuyên các chàng trai đã hỏi vợ thì cưới ngay để tránh sự bất trắc của thời gian. Nhưng vẫn có những trường hợp nhà gái đã nhận ăn lễ hỏi của nhà trai cũng không cho cử hành lễ nghênh hôn sớm, có khi vì cô gái còn quá nhỏ tuổi, có khi vì cha mẹ thương con không muốn con phải về nhà chồng quá sớm.</p>
<p>(BBT web)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/nghi-le-an-hoi-le-dinh-hon-cua-nguoi-viet.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Điểm qua những phong tục tập quán của người Dao ở vùng cao Biên giới Phía Bắc</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/diem-qua-nhung-phong-tuc-tap-quan-cua-nguoi-dao-o-vung-cao-bien-gioi-phia-bac.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/diem-qua-nhung-phong-tuc-tap-quan-cua-nguoi-dao-o-vung-cao-bien-gioi-phia-bac.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:27:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phong Tục Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[các phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[cúng tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[lễ hội ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[tết cổ truyền của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tết của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tet nguyen dan cua viet nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=18</guid>
		<description><![CDATA[Dân tộc Dao là một trong 54 dân tộc anh em đang sống trên dải đất Việt Nam. Hiện nay, dân tộc Dao có khoảng gần 500.000 người, phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng cao biên giới phía bắc Việt Nam như Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Hầu hết các nhóm người <a href="http://phongtuctapquan.com/diem-qua-nhung-phong-tuc-tap-quan-cua-nguoi-dao-o-vung-cao-bien-gioi-phia-bac.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Dân tộc Dao là một trong 54 dân tộc anh em đang sống trên dải đất Việt Nam. Hiện nay, dân tộc Dao có khoảng gần 500.000 người, phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng cao biên giới phía bắc Việt Nam như Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Hầu hết các nhóm người Dao đều thờ tổ tiên là Bàn Hồ. Một số ngành nghề thủ công của người Dao rất phát triển như dệt vải, rèn, mộc, làm giấy, ép dầu&#8230;</p>
<p><strong>N</strong>gười Dao ở Việt Nam có nhiều nhóm địa phương khác nhau có tên gọi là Dao đỏ, Dao quần chẹt, Dao lô ngang, Dao tiền, Dao quần trắng&#8230; Đàn ông Dao để tóc dài búi sau gáy, hoặc để chỏm tóc trên đỉnh đầu. Y phục thường quần áo ngắn hoặc dài màu chàm. Trang phục của phụ nữ phong phú hơn, hiện vẫn giữ được các nét hoa văn truyền thống. Người Dao có nền văn hoá lịch sử lâu đời và tri thức dân gian rất phong phú, đặc biệt là y học cổ truyền. Họ không có văn tự riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá gọi là chữ Nôm Dao. Tiếng nói của họ thuộc ngữ hệ H’Mông &#8211; Dao. Người Dao là một cộng đồng cư dân canh tác vào vùng rẻo cao giữa đồi núi. Họ sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương và lúa nước với kỹ thuật canh tác khá tiến bộ. Họ vừa làm nương vừa làm ruộng. Xưa kia họ chuyên du canh du cư, nghĩa là sau dăm bảy năm họ bỏ làng bỏ bản đi tìm vùng đất mới. Ngày nay người Dao đã bỏ phong tục đó, xây dựng cuộc sống mới định canh định cư. Vừa phát triển nương rẫy vừa bảo vệ và khai thác rừng hợp lý.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//NguoiDao.jpg" alt="" width="590" height="393" /></div>
<p><strong>Những phong tục kỳ lạ của người Dao</strong></p>
<p>Đồng bào Dao có nhiều phong tục kỳ lạ như trong hôn nhân, Nam giới phải ở rể từ hai đến ba năm, có khi ở luôn nhà vợ (nếu ở luôn nhà vợ thì phải đổi họ bên vợ). Họ còn có tục dùng bạc trắng để định giá cô dâu, theo nghĩa đen là mua và gả bán, số bạc ấy sau này sẽ là của đôi vợ chồng trẻ. Ngày cưới, cô dâu trang điểm rất đẹp, đội mũ màu đỏ, có hoa văn; cổ và tay đeo nhiều vòng bạc. Ngày cưới, đoàn đưa cô dâu, có cả thầy cúng, và thổi kèn, đánh chiêng, khua trống, rung nhạc. Tới nhà chồng, cô dâu phải qua nhà tạm, khi được giờ thì mới được vào nhà chồng. Lên tới nhà chồng, cô dâu phải “rửa tay”, bước qua chậu than hồng và nhiều nghi thức khác&#8230; trước sự chứng kiến của hai họ rồi mới bước qua cửa vào nhà với ý nghĩa là “Từ nay đoạn tuyệt với con ma họ ngoại và từ nay theo con ma họ nhà nội”. Sau khi vợ chồng lấy nhau, khi sinh con đầu lòng thì họ đẻ ngay tại buồng ngủ của mình. Ba ngày đầu, các cửa ra vào đều phải cắm lá kiêng không cho người lạ vào nhà. Gia đình dân tộc Dao tồn tại bền vững theo chế độ phụ quyền, người con gái không có tên trong chúc thư, không được thừa kế tài sản của gia đình.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Về cấu trúc nhà ở của người Dao có ba loại nhà: nhà sàn, nhà đất, nhà nửa sàn nửa đất; nhà ở bằng gỗ, tre, nứa rất chắc chắn, đơn giản nhưng được kết hợp khéo léo toát lên sự kín đáo, tế nhị của người Á Đông. Kiểu nhà truyền thống của người Dao quần trắng là nhà sàn, thường được làm ba gian, cách chắp nối các cấu kiện bằng nguyên liệu rời. Tuy nhiên, họ không phải dùng đinh trong quá trình lắp ghép nhà ở. Kiểu nhà này chỉ có một cầu thang lên xuống, cầu thang có số bậc lẻ; trong nhà thường có hai bếp. Nhà người Dao đỏ làm nửa sàn nửa đất ở lưng chừng đồi. Cách chọn hướng nhà thì cũng như các dân tộc khác.</p>
<p>Tín ngưỡng của người Dao là tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh” mang dấu ấn của Nho giáo và Đạo giáo chính thống. Tư tưởng Nho giáo được thể hiện rõ trong cách phân định tôn ti, trật tự, theo thứ bậc ở mỗi gia đình, mỗi dòng họ. Đồng thời, Đạo giáo ảnh hưởng bao trùm hầu hết các phong tục tập quán thờ cúng tổ tiên (Bàn Hồ – Bàn Vương), được thể hiện qua lễ đặt tên cho con trai và cấp sắc cho người làm thầy cúng&#8230; Người Dao quan niệm khi chết thì chỉ chết về thể xác, còn linh hồn mãi mãi bất diệt “quay về với tiên tổ”.</p>
<p>Về trang phục, so với các dân tộc khác thì dân tộc Dao được coi là còn giữ được nhiều nét bản sắc của mình với chất liệu bằng vải bông nhuộm chàm, màu xanh, đỏ, đen, tím than hoặc để trắng. Tộc người Dao đỏ đội khăn đỏ, đeo những bông hoa đỏ trước ngực; Dao quần chẹt mặc quần ống hẹp bó sát vào chân; Dao quần trắng nổi bật là yếm rất to che kín cả ngực và bụng, ngày cưới cô dâu mặc quần trắng; Dao làn tuyển mặc áo dài, đội mũ nhỏ&#8230;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Dân tộc Dao có một nền văn hóa rất phong phú và đậm đà bản sắc thể hiện qua nhiều phong tục, nhiều điệu múa đẹp, nhiều bài hát hay, kho tàng truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, ca dao, thành ngữ, chiêm tinh, tướng số, câu đố&#8230; Nhưng cũng giống các dân tộc thiểu số khác chủ yếu tồn tại dưới dạng truyền khẩu, vốn này ngày nay cũng bị mai một, thất truyền với những lý do khách quan cũng như chủ quan.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/diem-qua-nhung-phong-tuc-tap-quan-cua-nguoi-dao-o-vung-cao-bien-gioi-phia-bac.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khám phá nét độc đáo tết Độc lập của người Mông ở Tây Bắc</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-net-doc-dao-tet-doc-lap-cua-nguoi-mong-o-tay-bac.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-net-doc-dao-tet-doc-lap-cua-nguoi-mong-o-tay-bac.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:27:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phong Tục Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[các phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[cúng tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[lễ hội ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[tết cổ truyền của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tết của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tet nguyen dan cua viet nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=19</guid>
		<description><![CDATA[Vào khoảng những năm 50 của thế kỷ trước,đồng bào dân tộc Mông ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã hình thành nên một cái tết mới &#8211; đó là tết Độc lập mừng quốc khánh 2/9. Cách đây ít năm, sau mấy ngày của Lễ hội Văn hóa các dân tộc Mộc Châu <a href="http://phongtuctapquan.com/kham-pha-net-doc-dao-tet-doc-lap-cua-nguoi-mong-o-tay-bac.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Vào khoảng những năm 50 của thế kỷ trước,đồng bào dân tộc Mông ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã hình thành nên một cái tết mới &#8211; đó là tết Độc lập mừng quốc khánh 2/9. Cách đây ít năm, sau mấy ngày của Lễ hội Văn hóa các dân tộc Mộc Châu do tỉnh Sơn La tổ chức rất quy mô vào cuối tháng Tám dương lịch, sau khi khách mời và các nhà báo trung ương và địa phương đã trở về hết, tôi rủ vài anh bạn nhà báo trẻ cùng ở lại huyện Mộc Châu qua ngày 2/9 để đón cái tết Độc lập độc đáo của đồng bào dân tộc mà chỉ vùng cửa ngõ Tây Bắc này mới có.Đêm 1/9/2014, người dân từ khắp các làng bản xa đã đổ về trung tâm huyện lỵ. Trên đường phố chính, dòng người kéo dài hàng cây số. Dường như cả đêm hôm đó không ai ngủ, mọi người đi dọc các con phố sáng trưng đèn, qua các cửa hàng mở thâu đêm, ăn phở, chụp ảnh, hoặc ngồi quây quần uống rượu, hát hò, thăm hỏi&#8230;</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//nuc%282%29.jpg" alt="" width="500" height="333" /></div>
<p>Thiếu nữ Mông thì diện những chiếc váy xòe mà có khi họ thêu thùa cả năm mới xong, như thể chỉ dành riêng cho ngày đặc biệt này. Con trai Mông cũng áo quần bảnh bao, mũ nồi ngất ngư, khăn vuông vắt vẻo, vác khèn điệu nghệ và bên mình đeo chiếc cát-xét nhỏ phát những ca khúc tình tứ tiếng Mông. Trai gái tụ tập thành từng nhóm, trêu đùa, hát giao duyên cho đến sáng.</p>
<p>Mọi người kể: Từ đêm 31/8, nhiều nẻo đường từ các huyện Mai Châu, Bắc Yên, Phù Yên, Yên Châu, người Mông đã xúng xính trong những bộ quần áo đẹp nhất, mới nhất để về Mộc Châu &#8211; nghĩa là không ít người hoặc cả gia đình đã vượt qua quãng đường núi tới hơn 100km, bằng các phương tiện: ô tô, xe máy, cưỡi ngựa, đi bộ…</p>
<p>Trong dịp này, nhiều du khách trong và ngoài nước cũng nô nức kéo về huyện Mộc Châu để cùng đồng bào Mông (và các dân tộc khác ở Tây Bắc) chơi tết Độc lập.</p>
<p>Kể từ ngày 28/8 cho đến ngày 2/9 liên tục diễn ra nhiều hoạt động: Hội chợ thương mại, biểu diễn văn nghệ, triển lãm tranh ảnh, thi đấu thể thao và các trò chơi dân gian: bắn nỏ, đẩy gậy, kéo co, tung còn, tó má lẹ, đánh tu lu, ném pa pao, giã bánh dày, trò chơi rồng ấp trứng,&#8230;</p>
<p>Theo phong tục của tổ tiên mình, đồng bào Mông chỉ ăn tết một lần vào dịp cuối năm dương lịch. Nhưng lâu nay, theo một số người già đất Mường Sang cũ, vào khoảng những năm 50 của thế kỷ trước, đồng bào dân tộc Mông ở huyện Mộc Châu đã hình thành nên một cái tết mới &#8211; đó là tết Độc lập mừng quốc khánh 2/9.</p>
<p>Ngày hội này, lúc đầu chỉ là một “Đêm hội người Mông”, nghĩa là chỉ của riêng người Mông, nhưng dần dà sau thời gian đã thu hút được đông đảo bà con các dân tộc khác như: Thái, Mường, Kinh, Dao, Khơ Mú, Sinh Mun&#8230; ở các địa phương trong tỉnh, ngoài tỉnh và cả ở nước bạn Lào.</p>
<p>Thị trấn nhỏ trên cao nguyên Mộc Châu trở thành điểm đến của hội ngộ, là dịp đồng bào Mông trao đổi tình cảm, gắn kết cộng đồng, nơi trai gái tìm nhau rồi nên nghĩa trăm năm.</p>
<p>Như vậy là, nếu tết truyền thống của người Mông chỉ gói gọn trong phạm vi của gia đình, họ hàng, cộng đồng bản hoặc giữa các bản với nhau thì tết Độc lập 2/9 là một “hiện tượng văn hóa” đặc sắc mang tính thời đại, đó cũng là sự liên kết giữa các cộng đồng người Mông của các vùng miền khác nhau.</p>
<p>Sau năm 1975 cho đến nay, sinh hoạt này đã trở thành một nhu cầu tinh thần không thể thiếu, và có khả năng sẽ lan tỏa tới nhiều vùng đồng bào Mông trong cả nước&#8230;</p>
<p>Mấy năm qua, đã có hàng chục bài báo viết, báo mạng nói về ngày lễ đón tết Độc lập này một cách chi tiết, sinh động, (thậm chí trên công luận còn thông báo cụ thể về tết Độc lập năm nay &#8211; 2014 ở huyện Mộc Châu, nội dung có thêm nhiều cái mới thế nào, như sẽ có 3 khinh khí cầu bay tại khu vực đêm hội, v.v&#8230;).</p>
<p>Vì vậy, tôi không làm mất thời gian của bạn đọc thêm nữa trong việc miêu tả, kể lể về nội dung, diễn biến lễ Độc lập đó.</p>
<p>Trở lại cái đêm ấy, các bạn trẻ của tôi ai cũng ngạc nhiên, say mê, trầm trồ, họ lần đầu tiên được sống trong một không gian văn hóa chưa từng thấy trên đất nước ta. Còn tôi, vì đã vài ba lần được sống qua, sự ngạc nhiên háo hức không còn nữa, nhưng khung cảnh trên cũng cho tôi thêm một dịp để tiếp tục suy ngẫm về văn hóa và thân phận đồng bào Mông Tây Bắc- điều đã cuốn hút tâm trí tôi suốt nhiều năm ròng…</p>
<p>Đêm sâu, bên một vệ đường phố núi Mộc Lỵ, khi tiếng kèn lá giao duyên của một cô gái Mông cất lên, tôi đã tâm sự với các nhà báo trẻ vài trải nghiệm của mình sau nhiều ngày lang thang trên các vùng người Mông khắp tỉnh Sơn La trong đợt làm phim tài liệu “Trăn trở vùng cao”. Điều đó cũng giúp cho cả chính tôi chợt hiểu thêm nguyên do, cùng ý nghĩa sâu xa của những điều vừa được chứng kiến tại Châu Mộc đêm 1/9.</p>
<p>Đồng bào Mông là một cộng đồng người cứ chọn nơi nào cao nhất để định cư, bao đời nay tồn tại trên dốc cao chìm khuất giữa sương mù, và hiện đang đứng trước không ít thử thách nặng nề để sống cho ra sống… Họ rời khỏi nhà từ lúc nhọ mặt để trở về trong ánh đèn mỡ lợn hoặc ánh điện lom đom lấy lên từ suối cạn.</p>
<p>Các làng Mông (Jao) ở khắp vùng Tây Bắc vốn thừa đất thiếu nước, nhiều dốc hiếm bãi bằng, từng trải qua bao thời loạn rừng động núi, di cư liên miên, vốn là những vùng quê tự cung tự cấp chưa ổn định, sống bằng nương rẫy, trình độ dân trí còn thấp, các hủ tục và nạn mê tín còn nặng nề, và đồng bào thì mộc mạc, khảng khái nhưng cũng dễ bị kẻ xấu mua chuộc, lợi dụng… Đó là dân tộc của những &#8220;Tiếng hát làm dâu”, “Tiếng hát mồ côi&#8221; thống thiết. Câu dân ca Mông hát bên bếp lửa như vọng mãi lời ai oán của những kiếp người khổ sở:</p>
<p>Ta trót ăn lầm cơm ma<br />
Trót uống lầm nước ma<br />
Lạc chân trời đến quê ma<br />
Ta đi được, trở về không được…</p>
<p>Tại một vùng cao hẻo lánh Sốp Cộp, tôi đã được nghe những lời hát cúng “Ma bò”: “Con bò sừng cao đến tận trời, đuôi quệt dưới trần gian, mang chín thang thuốc chữa cho gia đình sống cuộc đời thanh bạch, trong như nước, trắng như gạo, xanh như rừng…”. Trong những lời hát cúng tựa sử thi ấy, tôi chợt nhớ đến câu chuyện do nhà văn người Mông Hờ A Di kể: một ông bác, chỉ vì cần có một con bò cúng ma đã cam tâm đem cả cháu gái mình bán đi!</p>
<p>Vẻ đẹp tâm linh và sự lạc hậu, cái cao cả và sự tối tăm…tất cả đang kết thành búi trong tâm thức ngàn đời, đang cần được nhiều người có tâm có hiểu biết và những chính sách đúng đắn gỡ dần ra… Người Mông xưa thường buồn bã ví dân tộc mình như một cánh chim: “Người ta có ruộng, người ta ăn thóc mọc dưới đất&#8230; Người Mông ta không có ruộng, ta bay trên trời cao tìm quả ngọt trong rừng” (dân ca Mông).</p>
<p>Nhưng đó cũng chính là loài chim Pocư Úacâu, còn gọi là chim chèo bẻo, loài chim nhỏ nhắn có sức sống kiên cường, dũng cảm và mưu lược, chiến thắng được cả diều hâu hung dữ…Và đồng thời, người Mông còn là chủ nhân đáng tự hào của một bản sắc văn hoá vùng cao có một không hai! Những phục trang, những hoạ tiết thổ cẩm tinh xảo rực rỡ của người Mông, người Dao khiến bất kỳ ai khó tính nhất cũng phải khâm phục.</p>
<p>Nước thép rèn của những con dao Mông chất lượng không kém lưỡi dao Đa-mát Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng thế giới. Nòng súng kíp của người Mông được làm một cách kỳ công, chính xác &#8211; bằng sức nước ngày đêm khoan nòng thép! Những thửa ruộng bậc thang, những nương màu trên những sườn núi có độ dốc cao chứng tỏ kỹ thuật canh tác độc đáo và đức tính cần cù, nhẫn nại của người dân vùng cao…</p>
<p>Cuộc vận động phá bỏ cây thuốc phiện cách đây hơn hai thập kỷ đã làm rung chuyển tận gốc rễ một tập quán canh tác và sinh sống quan trọng của hàng chục vạn người Mông. Những người khổng lồ xưa trong truyền thuyết của người vùng cao chắc hẳn phải ngỡ ngàng bởi thế hệ cháu chắt của họ trong những năm cuối của thế kỷ 20 đã dám từ bỏ một tập quán vững chắc dường như có sự hỗ trợ của đấng thần linh: trồng và hút thuốc phiện!</p>
<p>Tuy thế, cuộc sống của đồng bào Mông Tây Bắc vẫn đang đứng trước bao thử thách lớn lao! Tôi từng được nghe ông Thào A Giàng &#8211; Trưởng ban Dân tộc của tỉnh Sơn La nói: “Đồng bào Mông giờ cuộc sống đã khá hơn xưa nhiều, nhưng còn gieo neo lắm; tỷ lệ nghèo so với các dân tộc khác vẫn trên 80%, cuộc xoá đói giảm nghèo còn kéo dài…Việc sắp xếp lại dân cư, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, việc nâng cao dân trí, việc xoá bỏ những điểm nóng ma tuý, và biết bao việc- cái gì cũng cần kíp cả trong thời “hậu cây thuốc phiện” vùng cao…”.</p>
<p>Rồi còn hàng loạt vấn đề sinh tử nữa: sự cần thiết phải phát triển nghề dệt lanh, nghề rèn truyền thống của người Mông thành hàng hoá. Bởi ngày hôm nay hiếm khi tìm thấy một khung cửi trong những ngôi nhà ám khói; những bếp lò rèn đã nguội tanh từ lâu.</p>
<p>Tất cả đều có thể mua được ở chợ biên giới Chiềng Khương, chợ bên Lao Cai&#8230; Còn những chiếc váy Mông lộng lẫy, những tấm thổ cẩm tuyệt đẹp &#8211; sản phẩm của nghề dệt lanh độc đáo chỉ người Mông mới có và những con dao Mông nổi danh giờ có nguy cơ sẽ chỉ còn tìm thấy trong các bảo tàng dân tộc học!</p>
<p>Trong đêm 1/9/2014 kỳ lạ ấy giữa phố huyện của cao nguyên Châu Mộc se lạnh, mấy nhà báo chúng tôi thuộc hai thế hệ đã ngộ ra được phần nào cái “lý” này (theo cái “lý” mà người Mông vẫn ưa thích): lễ hội đón tết Độc lập của đồng bào Mông huyện Mộc Châu được hình thành và phát triển, xét cho cùng cũng là một trong những nỗ lực để góp phần xoá đi hết cái hình ảnh “trần gian trải vải đen” trong thơ ca đẫm lệ xưa, để mong gỡ dần cái tấm vải đen trùm kín mặt trong tiếng cúng ma rùng rợn còn tồn tại cho đến tận hôm nay ở nhiều làng Mông hẻo lánh khắp vùng Tây Bắc…</p>
<p>(VTV-Online)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-net-doc-dao-tet-doc-lap-cua-nguoi-mong-o-tay-bac.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>KHám phá những kiểu cầu hôn độc đáo trên vùng núi cao Tây Bắc</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-nhung-kieu-cau-hon-doc-dao-tren-vung-nui-cao-tay-bac.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-nhung-kieu-cau-hon-doc-dao-tren-vung-nui-cao-tay-bac.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:27:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phong Tục Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[các phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[cúng tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[lễ hội ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[tết cổ truyền của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tết của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tet nguyen dan cua viet nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=14</guid>
		<description><![CDATA[Việt Nam có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống với bản sắc văn hóa vùng cao ít nơi nào có được, vì thế luôn hấp dẫn khách du lịch xa gần. Mùa cưới, xin kể với bạn đọc vài nét về những kiểu cầu hôn có một không hai của thanh niên dân tộc <a href="http://phongtuctapquan.com/kham-pha-nhung-kieu-cau-hon-doc-dao-tren-vung-nui-cao-tay-bac.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Việt Nam có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống với bản sắc văn hóa vùng cao ít nơi nào có được, vì thế luôn hấp dẫn khách du lịch xa gần. Mùa cưới, xin kể với bạn đọc vài nét về những kiểu cầu hôn có một không hai của thanh niên dân tộc ít người ở nơi này.</strong></p>
<p><strong> Có con rồi mới&#8230; cưới vợ</strong></p>
<p>Người dân tộc Hà Nhì là một trong những dân tộc ít người ở nước ta. Nơi họ sinh sống là vùng đất biên giới tỉnh Lai Châu và Lào Cai. Trai gái dân tộc này có phong tục trùm kín chăn khi hát giao duyên tình tự với nhau mỗi khi trong bản có lễ hội. Có lẽ do miền đất họ sống gần như quanh năm giá lạnh, có nhiều mùa đông tuyết phủ trắng núi rừng, nếu không có chăn ấm làm sao mà họ ngồi lâu tâm tình với nhau được?</p>
<p>Nhưng có một lý do nữa, đó là phong tục người Hà Nhì không cho người khác nhìn thấy con trai giao duyên với con gái. Trùm chung chăn kín nhưng họ vẫn giữ được ranh giới nhất định, bởi vì luật tục của người Hà Nhì rất khắt khe với những cô gái chưa chồng.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//cho-tinh-khau-vai-du-lich-ha-giang-600x300w.jpg" alt="" width="600" height="300" /></div>
<p>Thanh niên Hà Nhì được tự do kết hôn, nếu bạn gái yêu mình thì chàng trai dẫn về nhà thưa chuyện với cha mẹ xin cưới làm vợ. Cả nhà đồng ý thì làm lễ trước bàn thờ &#8220;kính cáo&#8221; với tổ tiên gia đình mình có cô con dâu mới. Nhà chú rể làm cỗ mời cả họ hàng và dân bản tới cùng vui. Nếu có điều kiện thì nhà trai mang sang cho nhà cô dâu: một số tiền mặt (trước đây là mấy đồng bạc trắng, nhiều năm gần đây là tiền mặt), một con lợn khoảng 50 cân, 50 lít rượu trắng, đôi gà sống, cùng xôi nếp và trứng chia đều làm hai gói&#8230; Ðây là lần cưới đầu tiên của trai bản Hà Nhì đối với vợ mình. Người vợ từ đó trở đi phải mang họ nhà chồng.</p>
<p>Khi có con hoặc kinh tế gia đình khá giả, người chồng phải tổ chức đám cưới lần thứ hai&#8230; với chính vợ mình. Có phải do tìm hiểu kỹ trước khi kết hôn hay vì phong tục hôn nhân của người Hà Nhì chặt chẽ, mà vợ chồng các gia đình của dân tộc này rất ít khi ly hôn?</p>
<p>Sau hai lần ăn hỏi&#8230;mới được kết hôn. Ðó là phong tục đối với người con trai dân tộc Dao Ðỏ. Sau khi để ý từ phiên chợ hay lễ hội của bản làng, nếu thích cô nào thì chàng trai về nói với bố mẹ đi tới nhà gái hỏi tuổi người mình yêu. Nếu hợp tuổi nhau thì gia đình chàng trai trao cho nhà cô gái đồng bạc trắng. Nhà gái dù muốn gả hay không, thì lần xin hỏi đầu họ cũng đều từ chối nhận đồng bạc trắng ấy.</p>
<p>Một thời gian sau, nhà trai lại tới xin ăn hỏi lần hai, nếu ba ngày sau đó mà không thấy nhà gái đem trả đồng bạc trắng, thì nhà trai biết chắc họ đã đồng ý gả con cho nhà mình. Gia đình chàng trai chọn ngày lành tháng tốt để mang lễ vật tới nhà cô gái bàn ngày cưới.<br />
Sau lễ ăn hỏi chính thức, cô dâu tương lai được gia đình tạo điều kiện để có nhiều thời gian nhàn rỗi trong một năm để dệt may, thêu thùa hai bộ quần áo cưới từ số vải và chỉ thêu do nhà trai đưa tới hôm lễ ăn hỏi chính thức.</p>
<p>Nổi bật nhất trong đám cưới của người Dao Ðỏ là trang phục của cô dâu với chiếc khăn đỏ lớn trùm đầu lên chiếc mũ đỏ mầu cờ, đính nhiều nụ hoa tết từ len đỏ, cài xen những lắc nhạc đồng xinh xinh. Mũ áo của cô dâu người Dao Ðỏ là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo về sắc mầu và sự tinh xảo trong từng đường thêu hoa văn thổ cẩm truyền thống.<br />
Ðã có khá nhiều tác phẩm văn học &#8211; nghệ thuật mô tả vẻ đẹp hiếm có của trang phục phụ nữ Dao Ðỏ. Ðặc biệt là phong tục mời cưới của họ thay thiếp mời hồng bằng giấy là hai đồng tiền xu bằng kẽm cổ truyền, đó là biểu tượng gắn bó cả đời giữa cô dâu và chú rể. Người được mời dự cưới phải trả lại hai đồng tiền xu trên khi đi dự cưới và mừng cô dâu chú rể đồng tiền giấy (giống nhau về giá trị và giống nhau cả về hình thức, đựng trong phong bì kín), thí dụ mừng hai tờ 20 nghìn đồng hoặc hai tờ 50 nghìn đồng&#8230;</p>
<p><strong>Cùng họ&#8230; không được phép lấy nhau</strong></p>
<p>Người dân tộc Mông ở Tây Bắc, dù là dân tộc Mông hoa (Mông Lênhx), Mông trắng (Môngz đơưz), Mông đen (Mông đuz), dù mang họ gì (thí dụ họ Giàng, họ Tráng, họ Thào, họ Cư, họ Má, họ Lừu&#8230;) trai gái yêu nhau mà phát hiện ra cùng có họ giống nhau, dù họ xa bao nhiêu đời đi nữa, cũng không được phép lấy nhau.</p>
<p>Xưa kia người Mông có tục cướp vợ, có lẽ vì thế không ít cô gái đã bị bắt ép làm vợ, còn ngày nay trai gái của dân tộc này được phép tự do kết hôn, còn có bắt thì giả vờ bắt cho vui mà thôi.</p>
<p>Theo phong tục truyền thống của người Mông, đã là cùng mang tên họ giống nhau thì đều coi là có chung tổ tiên, coi nhau như họ hàng và có thể sinh con hoặc chết ở nhà người cùng họ.<br />
Chú rể người Mông ở huyện Bát Xát còn thực hiện một phong tục đặc biệt sáng ngày mồng một tết Nguyên đán. Ðó là phải tự nguyện làm tất cả mọi việc cho gia đình, từ nấu cỗ cho đến rửa bát, chăn gà lợn&#8230; Sau đó, khách quý đến chơi nhà, người vợ chủ động làm cơm mời khách, chồng và khách uống rượu càng say thì người vợ càng vui. Các bà vợ rất vui vì họ được coi là người hiếu khách và rất yêu quý chồng. Thế mới có chuyện thật như đùa. Có ông chồng đêm đến lấy váy thổ cẩm mới mua của vợ đắp cho bạn ngủ sau tiệc rượu khuya, mà người vợ vẫn không phàn nàn gì.</p>
<p><em>(Nhân dân)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-nhung-kieu-cau-hon-doc-dao-tren-vung-nui-cao-tay-bac.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Văn hóa Nhà Rông trong đời sống văn hóa Tây Nguyên</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/van-hoa-nha-rong-trong-doi-song-van-hoa-tay-nguyen.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/van-hoa-nha-rong-trong-doi-song-van-hoa-tay-nguyen.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:27:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phong Tục Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[các phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[cúng tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[lễ hội ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[tết cổ truyền của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tết của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tet nguyen dan cua viet nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=15</guid>
		<description><![CDATA[Ở Gia Rai và KonTum có 7 dân tộc thì có 6 dân tộc có nhà Rông. Trong số 6 dân tộc này có 5 dân tộc thuộc ngôn ngữ Môn Khơ Me: BaNa, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Rơ Măm và BRâu. Chỉ có dân tộc Gia Rai là thuộc nhóm ngôn ngữ Malaiô &#8211; <a href="http://phongtuctapquan.com/van-hoa-nha-rong-trong-doi-song-van-hoa-tay-nguyen.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Ở Gia Rai và KonTum có 7 dân tộc thì có 6 dân tộc có nhà Rông. Trong số 6 dân tộc này có 5 dân tộc thuộc ngôn ngữ Môn Khơ Me: BaNa, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Rơ Măm và BRâu.</strong></p>
<p>Chỉ có dân tộc Gia Rai là thuộc nhóm ngôn ngữ Malaiô &#8211; Pôlynêxia. Ở mỗi buôn làng Tây Nguyên thường có ngôi nhà Rông nằm giữa trung tâm, nhưng cũng có buôn làng có tới 2 hoặc 3 nhà Rông. Quản lý và trụ trì nhà Rông là một tập thể “hội đồng già làng, điều khiển theo một tinh thần triệt để dân chủ, tuân thủ theo một tập quán pháp chặt chẽ gắng duy trì một trật tự lý tưởng, để nhịp sống trôi theo ý muốn của cha ông và của thần linh”<sup>(1)</sup>.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//nharongtaynguyen.jpg" alt="" width="497" height="393" /></div>
<p>Ngôi nhà Rông không chỉ là sản phẩm văn hoá đã được sáng tạo từ lâu đời mà còn rất độc đáo, mang sắc thái đặc thù lãnh thổ, không hề lẫn với bất kỳ miền vùng nào trên đất nước Việt Nam. Nhìn xa, ngôi nhà Rông như một lưỡi búa khổng lồ chĩa thẳng lên trời như thách đố với thời gian, với thiên nhiên khắc nghiệt, với cả bão tố chiến tranh,…Nhưng nhà Rông vẫn tồn tại, uy nghi giữa núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ và cổ kính; nơi ấy giàu âm hưởng chất nhạc, chất thơ, huyền thoại sử thi… Tất cả cứ thấm đẫm vào tâm hồn và máu thịt con người, để rồi trở thành biểu tượng văn hoá của buôn làng Tây Nguyên.</p>
<p>Nhìn chung ngôi nhà Rông có rất nhiều chức năng; trở thành nơi sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, trụ sở quản trị buôn làng, trung tâm  chỉ đạo sản xuất, chỉ huy chiến đấu nơi  chứng kiến vòng đời của mỗi thành viên trong cộng đồng các dân tộc.</p>
<p>1- Nhà Rông là nơi sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của buôn làng</p>
<p>Ở Tây Nguyên nhà Rông là nơi diễn ra nhiều nghi thức cúng lễ các loại thần. Mỗi loại thần đòi hỏi một nghi thức cúng lễ riêng. Các thần tạo hoá và thần cấp cao gọi chung là “ Yàng” được cúng ở nhà Rông.</p>
<p><em>Những nghi lễ liên quan đến sức khoẻ của buôn làng</em></p>
<p>Từ xưa đến nay, dịch bệnh vẫn là mối đe doạ với cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Có những dân tộc còn lại số ít vài trăm người, cho nên sự cầu mong sức khoẻ, ít bệnh tật là một nhu cầu tất yếu của đồng bào. Muốn vậy, không có cách nào khác là phải cầu đến thần linh.</p>
<p>Lễ cầu an: từ lâu đồng bào các dân tộc đã biết dùng thuốc bằng cỏ, cây rừng. Nhưng đồng bào tin rằng có thần trú ngụ trong các cây thuốc đó. Nên hàng năm đã dọn dẹp, phát quang xung quanh làng và rào lại những cây thuốc quý, người ta mới tiến hành cúng các “Yàng” ở nhà Rông cùng ma quỷ ở cổng buôn làng để cầu mong cho dân làng khỏi bệnh tật ốm đau.</p>
<p>Lễ cúng khi buôn làng có dịch bệnh: nếu như trong làng có dịch bệnh, người ta phải làm lễ cúng nhà Rông để tẩy uế, cầu thần cho tai qua, nạn khỏi.</p>
<p>Lễ rửa xui: khi dân làng gặp phải điều gì rủi ro, chẳng hạn làng có người bị cọp bắt, ngã cây chết, chết đuối… Người ta phải cúng tại nhà Rông để “rửa xui” cầu an cho buôn làng.</p>
<p>Lễ cúng thần làng: sáng sớm vào những ngày đầu năm người ta ra suối bắt cá và đi kiếm rau rừng, đem rượu đến nhà Rông để già làng cúng các vị thần, cầu mong cho mọi người khoẻ mạnh, gia súc phát triển, mùa màng bội thu.</p>
<p><em>Những nghi lễ liên quan đến tạ ơn “Yàng”</em></p>
<p>Lễ dời làng và dời thần: khi có biến cố quan trong xảy đến cho dân làng, hội đồng già làng và dân làng họp tại nhà Rông quyết định dời làng và thần đến địa điểm mới. Người ta làm lễ tạ ơn thần giúp dân làng một chỗ ở mới tốt lành hơn.</p>
<p>Lễ mừng nhà Rông mới: sau khi nhà Rông đã được xây cất xong, người ta dựng cây gưng và làm lễ đâm trâu cúng lễ tạ ơn thần. Sau đó cùng nhau ăn uống, vui chơi , ca hát mừng nhà Rông mới.</p>
<p>Lễ chiến thắng: là lễ mà đối phương đến chuộc các tù binh và đền bù thiệt hại bằng một con trâu. Người ta giết con trâu đó (thế cho tù binh) để làm lễ tạ ơn thần chiến thắng.</p>
<p><em>Những nghi lễ liên quan đến sản xuất</em></p>
<p>Lễ cúng thần lửa: hàng năm trước khi trồng tỉa người ta cúng thần lửa để mong cây cối  phát triển trên nương rẫy cháy hết sạch để đỡ công rọn dẹp, có nhiều tro cho lúa tốt.</p>
<p>Lễ cúng thần nước: nước là yếu tố quan trọng bậc nhất để duy trì sự sống cho người , động vật và cây cối , nếu không có nước ắt không có sự sống nào diễn ra. Người ta thường làm lễ cúng thần nước vào những năm có hạn lớn, hoặc mưa lũ kéo dài có thể cản trở, phá hoại sản xuất và mùa màng. Lễ này được tổ chức cúng tại nhà Rông vào hai dịp chính mùa khô và mùa mưa.</p>
<p>Lễ cúng thần núi: thường được tổ  chức chung hai, ba buôn làng cùng thời điểm. Người ta cúng thần núi ở nhà Rông và tổ chức những cuộc thi tài: thi đánh trống, thi bắn cúng tên nỏ trúng mục tiêu di động, thi công hiệu của tên tẩm thuốc độc, tổ chức ăn uống vui chơi thâu đêm.</p>
<p>Lễ cúng thần lúa: lễ này có nhiều giai đoạn, có nghi lễ rước thần lúa ra nương rẫy, có  nghi lễ bảo vệ mùa màng… Họ cúng “Yàng” ở nhà Rông cầu cho lúa chắc hạt không bị thú rừng và thiên tai phá hoại.</p>
<p>Lễ ăn lúa mới: lễ này tổ chức rất long trọng, tương tự như tết nguyên đán của người Việt. Trong lễ này chủ yếu là cúng thần nông nghiệp, chưa cúng thì chưa được phép lấy thóc trong kho ra ăn. Nếu lấy ra ăn thì &#8220;Yàng&#8221; sẽ không phù hộ cho dân làng được mùa màng nữa.</p>
<p>2-  Nhà Rông là một trụ sở của bộ máy quản trị buôn làng</p>
<p>Lịch sử của các tộc người phát triển ngày càng phức tạp, cho nên cuộc sống thường ngày làm sao tránh khỏi những xích mích mâu thuẫn và nhất là khó bề giữ gìn không vi phạm các quy định  truyền thống. Mỗi khi có những vụ kiện cáo giữa các thành viên trong cộng đồng thì chủ làng và hội đồng già làng bàn bạc, thi hành những luật tục theo quy ước. Cách xử kiện thường được tổ chức theo “ lời phán quyết của thần linh thử bằng lửa và nước, thi tài lặn nước và nhai gạo”<sup>(1)</sup>.</p>
<p>Xử kiện bằng thử nước và thử lửa: khi hai bên bị cáo và nguyên cáo không chấp nhận chứng cứ đưa ra, thì chủ làng và hội đồng già làng làm lễ cúng thần, sau đó tiến hành việc xét xử. Nếu bị cáo được xử một mình bằng cách thử lửa (cầm cục than đang cháy hồng trong tay), thử nước sôi (đun một nồi nước sôi, thả một vật chìm trong đó, lấy tay vớt lên), nếukhông bị bỏng thì bị cáo vô tội, bên nào bị bỏng là bên ấy thua. Trường hợp cả hai bên đều bị bỏng thì bên nọ đền bên kia một chén rượu cần để giảng hoà.</p>
<p>Xử kiện bằng thi tài lặn nước và nhai gạo: hai người kiện nhau đều phải nhảy xuống nước (sông, suối) người nào trồi lên mặt nước trước là thua kiện. Hai người cho gạo vào miệng nhai kỹ rồi nhả ra, bên nào còn sót hạt gạo chưa vỡ thì bên đó thua kiện. Nếu cả hai bên không còn sót hạt gạo nào thì đi đến giảng hoà.</p>
<p>Xử kiện tội loạn luân: luật tục của cư dân Tây Nguyên quy ước: tội loạn luân là tội một người đàn ông ăn nằm với một người đàn bà cùng một gia tộc, không kể cấp độ họ hàng. Muốn thoát khỏi tội này thì người phạm tội phải tự thú nhận trước dân làng và phải phạt vạ. Khi biết được hai “thủ phạm” dân làng họp nhau trước nhà Rông để tiến hành nghi lễ “phạt vạ” và “tẩy uế”. Buôn làng giết một con lợn và một con dê thay cho hai tội nhân. Chủ làng thay mặt dân làng làm chủ lễ, lấy máu của hai con vật bị giết, bôi lên lưỡi gươm và giả đâm qua đùi người đàn bà làm thành hai vệt máu đỏ tươi rồi khấn thần “Yàng ơi, xin Yàng hãy tách chúng ra như tách một bên heo và một bên chó. Hãy tha tội cho chúng nó và xin đổ mưa xuống”. Khấn xong người ta đổ thịt lợn và thịt dê đã nấu chín vào một cái máng, rồi bắt hai can phạm bò tới đó như loài bốn chân và dùng miệng ăn trong máng như súc vật. Cuối cùng người ta giết một con trâu cái (trâu, lợn, dê đều do người có tội nộp phạt) để cúng Yàng. Sau đó, già làng cầm một bình rượu cần màu đen và một con gà mái màu đen ra bờ sông để làm lễ “tẩy uế”. Người đàn bà và người đàn ông loạn luân lội xuống sông, suối quay xuôi theo dòng nước chảy (dòng nước sẽ cuốn trôi đi sự ô uế của họ), người đàn bà cởi váy, người đàn ông cởi khố, vất tất cả xuống nước cho trôi đi. Rồi hai người lên bờ, dân làng mặc cho họ váy và khố mới, coi như thế là họ đã được trong sạch. Xong lễ “ tẩy uế”, tất cả mọi người (kể cả tội phạm) kéo nhau về nhà Rông cùng ăn uống, ca hát, nhảy múa, tấu cồng chiêng thâu đêm.</p>
<p>3- Nhà Rông là trung tâm chỉ đạo sản xuất.</p>
<p>Hội đồng già làng họp với các chủ Nóc tại nhà Rông để bàn kế hoạch và chỉ đạo sản xuất, kể từ việc phân chia rừng rẫy cho đến việc trỉa hạt, suốt lúa, nhập kho, kể cả những nghi thức dẫn “ hồn lúa” về buôn làng. Mỗi một giai đoạn quan trọng trong quá trình sản xuất của một năm đều được tổ chức một số nghi thức cúng lễ tại nhà Rông.</p>
<p>Chọn rừng để phát rẫy: hội đồng già làng chọn được ngày tốt thì tiến hành khảo sát các khu rừng, nếu khu rừng nào ưng ý, già làng sẽ chặt một cây đót bói xem thần rừng có cho làm ở khu vực đó hay không. Nếu được, già làng chặt một cây bẻ gẫy ngọn cắm xuống khu vực đó làm “dấu chiếm hữu” đất đã có chủ. Thường khi đi chọn đất rẫy người ta cho một phụ nữ có thai đi theo để khi chọn được đất, người  này sẽ cầm dao chém xuống đất mấy nhát, đó là ý tưởng sau này rẫy sẽ tốt, không bị thú rừng phá hoại. Chọn được rừng rồi, những người đi chọn đất trở về làng, bẻ một cành cây tươi để ngang trước cổng làm dấu cấm kị &#8211; báo cho người ngoài làng biết trong làng đang có cử. Hội đồng già làng họp tại nhà Rông , cúng thần rừng bằng một ché rượu cần, với lời khấn: “cháy hết cây cỏ , lúa lên thật đều kê nhiều đầy kho, thú rừng đừng phá, chim rừng đừng ăn”<sup>(1)</sup> Rồi chọn ngày tốt, xem sao trên trời để đoán mưa nắng và kéo nhau đi phát rẫy.</p>
<p>Tổ chức đi phát rẫy: các dân tộc Tây Nguyên lấy ngày tổ chức đi phát rẫy là một ngày hội lớn của toàn thể buôn làng. Tại nhà Rông, người ta chọn ra ba già làng, hoá trang mỏ chim, màu sắc sặc sỡ, mang ba gùi than vào một chòi nhỏ làm cạnh nhà Rông. Mỗi gia đình phải nạp cho ba người này một nắm gạo tẻ, ba nắm gạo nếp, ba con chuột sống, ba con cua để họ dùng than nấu lên. Rồi dân làng cõng ba người này cùng với những thức ăn đã nấu sang nhà Rông để cùng nhau ăn uống và chia lại cho các gia đình, ăn xong ba người đó lại được cõng trở lại chòi. Dân làng đốt một bếp lửa dưới bó mía do các gia đình đóng góp. Nếu bó mía ấy cháy hết là điềm tốt. Sau đó mỗi gia đình bỏ vào gùi của ba người một cái rựa dùng để phát rẩy, và ngay tối hôm đó, ba người này mang gùi đi ra rừng ngủ.Trong ba ngày sau, họ phải đi hết khu rừng đã chọn để phát rẫy, những nhát dao phát đầu tiên làm dấu, rồi trở về buôn làng. Sau cùng mọi gia đình mới được tiến hành phát rẫy.</p>
<p>Lễ trỉa hạt: Lễ trỉa hạt cũng được tiến hành ở nhà Rông. Dân làng dựng một cây gưng (cây gưng thay cho bàn cúng) và cúng bằng một con gà hoặc một con lợn. Già làng, chủ nhà Rông, cầm con gà đập đầu nó vào cột gưng rồi buông xuống đất. Nếu đầu con gà quay về phía già làng là tốt, nếu đầu con gà quay ngược lại phía già làng là xấu, phải cúng lại. Cúng xong già làng lấy máu gà bôi lên gưng và cho một ít máu hoà vào máng nước. Tiếp đến mọi người kéo nhau vào uống rượu cần, nhảy múa, ca hát. Sau nghi thức này mọi người mới được trỉa hạt. Lúc đi trỉa hạt người ta chọn một người đàn bà làm (chủ gốc lúa) chọc bảy lỗ theo hình vòng cung quanh chòi rẫy rồi tra hạt vào cái lỗ đó. Trỉa xong rẫy người ta tổ chức ăn uống tại nhà Rông, một già làng cao tuổi nhất khấn: “Mọc đủ mọi hạt , mọc hết từng hạt, nở hết tất cả, trăng lên mây lên, sao đến mày đến, mọc từ hạt, nở từ trấu, mưa gặp mây phủ,…”<sup>(2)</sup> Đến khi lúa chín ,người ta tổ chức đi suốt lúa và rước lúa về buôn làng. Một ít bông lúa nặng hạt được dắt lên mái nhà Rông. Sau khi thu hoạch lúa xong, lễ mừng vụ mùa được tổ chức rất lớn tại nhà Rông.</p>
<p>4- Nhà Rông là trung tâm chỉ huy chiến đấu</p>
<p>Nhà Rông là nơi hội đồng già làng và dân làng cùng với các chiến binh  tổ chức, bàn bạc, và chỉ đạo những cuộc chiến đấu để bảo vệ buôn làng, để trả thù rửa nhục cho các thành viên trong cộng đồng bị các cư dân khác làm hại.</p>
<p>Phòng thủ bảo vệ buôn làng: hầu hết các làng được rào cẩn thận và  cắm chông bằng tre vót nhọn chĩa ra mọi hướng. Ra khỏi buôn làng là phải mang theo vũ khí và thường thăm dò ý kiến thần linh để biết có bị rơi vào sào huyệt của kẻ thù hay không. Tuy nhiên, họ vẫn lo lắng và để ý đến bất kỳ tiếng động khác lạ nào đáng nghi ngờ. Khi có tiếng trống báo động gióng lên liên hồi thì cả dân làng đều chuẩn bị tập trung tại nhà Rông, để đối phó với một cuộc tấn công có khi chỉ là một kẻ thù tưởng tượng, có khi là kẻ thù thật sự.</p>
<p>Tiến hành cuộc chiến: khi phải tiến hành giao chiến, hội đồng già làng tập trung dân chúng tại nhà Rông, bàn  bạc và dò hỏi ý kiến thần linh. Người thủ lĩnh quân sự chặt một rễ cây làm ba khúc, đặt lên lưỡi giáo, cho rơi từng khúc lên mặt khiêm và cầu khấn. Nếu các khúc rễ cây ấy quay về phía người ta mong muốn là dấu hiệu báo cho biết sẽ thắng lợi. Cả đoàn quân vận những bộ đồ đẹp, khố đẹp, áo đẹp cùng với vũ khí, lương thực, thuốc hút đủ cho vài ngày. Ra khỏi làng, họ vừa đi vừa nghe ngóng, nhất là khi họ thấy diều hâu bay lượn trên trời và tiếng kêu lanh lảnh của nó thì họ càng hăm hở tiến bước. Nếu tiến vào làng của đối phương, trước hết họ xông lên chiếm lấy nhà Rông vì đó là nơi quan trọng nhất, rồi mới đánh ra các nơi khác. Tù binh kể cả phụ nữ và trẻ em được giữ lại chờ đối phương đem trâu tới chuộc. Số trâu chuộc tù binh thường ngang hàng với số tù binh. Sau khi thắng trận, đoàn quân trở về buôn làng phải vứt bỏ những vũ khí đã chém giết người ở ngoài rừng, sau khi làm lễ chiến thắng họ mới ra lấy về đem xuống suối rửa sạch sẽ mới được đem vào nhà.</p>
<p>Lễ đón tiếp đoàn quân thắng trận:  dưới sự chỉ huy của già làng, để đón tiếp đoàn quân thắng trận, nhà Rông nổi trống ,các chiến binh diễu hành trong tiếng cồng chiêng vang động núi rừng, vừa đi vừa reo hò rồi tiến thẳng lên nhà Rông, dân chúng và già làng đã tề tựu đông đủ ở đó. Ngày đầu tiên, kể từ khi đoàn quân chiến thắng trở về, những ai tham gia chiến đấu đều phải ngủ tại nhà Rông, không được về nhà. Sau ba ngày ba đêm, người ta tiến hành những nghi thức làm lễ ăn mừng chiến thắng. Vậy, nhà Rông như một tổng hành dinh của buôn làng, nơi để thanh niên luyện tập chiến đấu, nơi hội đồng già làng bàn bạc và chỉ huy chiến đấu, nơi hành lễ chiến thắng cũng như khi thất bại.</p>
<p>5-  Ngôi nhà Rông là nơi chứng kiến vòng đời của mỗi thành viên</p>
<p>Ngôi nhà Rông là tâm điểm gắn bó với mỗi con người từ lúc sinh ra, thành đạt, lấy vợ lấy chồng và tham gia sinh hoạt cộng đồng.</p>
<p>Sự khởi đầu sinh đẻ của người mẹ: thường các bà mẹ ở Tây Nguyên phải chịu nhiều sự ràng buộc vào những luật tục cấm kị rất hà khắc. Người ta quan niệm máu của người sản phụ là một thứ rất ghê tởm, nó có thể gây ra tai hoạ khôn lường cho gia đình, buôn làng, cộng đồng. Luật tục quy định: sản phụ phải sinh đẻ ngoài làng, nhất là trường hợp sinh con không hợp lệ (chưa đủ một năm sau khi thành hôn), với với trường hợp này, sản phụ phải sinh hoạt ở ngoài làng trong thời gian mang thai và sinh đẻ. Sau khi sinh con được một tháng, sản phụ mới được đưa con về làng. Nhưng để đứa trẻ được gia nhập cộng đồng, bố mẹ phải nộp cho dân làng một con trâu, hai con lợn để cúng nhà Rông, cúng thần đất và máng nước.</p>
<p>Làm lễ đặt tên (thổi tai) và lễ thành đạt: có nơi người ta thường ăn mừng ba ngày liền, hai ngày đầu tiên được tổ chức ở nhà Rông và ngày thứ ba ở nhà đứa bé. Nơi khác làm lễ thổi tai và đặt tên cho con, người mẹ bế con đi một vòng trong làng hết nhà này đến nhà khác để ra mắt và nhận quà ,rồi ghé đến trước nhà Rông, sau đó mới bồng con về nhà. Khi đến tuổi vị thành niên con trai 16 tuổi, con gái 13 tuổi, người ta làm lễ “cà răng”, cà từ hai đến sáu cái răng cửa và thường được tổ chức trước nhà Rông. Sau lễ cà răng mới được coi là đã trưởng thành và được gia nhập cộng đồng người lớn.</p>
<p>Lễ tổ chức cưới xin: thông qua những ngày lễ hội ở nhà Rông, thanh  niên nam, nữ có dịp tìm hiểu nhau, ưng ý và yêu thương nhau đi đến hôn nhân. Hôn nhân do các cô gái chủ động tìm bắt chàng trai khiêng đến nhà Rông của phái nữ để ra mắt với người vợ tương lai của anh ta. Sau đó, người con gái chuẩn bị một trăm bó củi “hứa hôn”, người con trai phải có đủ một trăm con chuột (đã phơi khô) để tiến hành lễ cưới.</p>
<p>Lễ cưới được tổ chức trong ba ngày đêm liền. Một ngày ở nhà Rông, một ngày ở nhà vợ, một ngày ở nhà chồng, chủ yếu là ăn uống, ca hát, với một số nghi thức đơn giản. Được hai bên gia đình và cộng đồng chứng nhận, từ đó người con trai không phải ngủ ở nhà Rông nữa.</p>
<p>Ngôi nhà Rông là sản phẩm văn hoá lâu đời của các dân tộc Tây Nguyên, nó đóng một vai trò quan trọng như một trung tâm sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, trung tâm chỉ đạo sản xuất, trung tâm chỉ huy chiến đấu, trung tâm chứng kiến vòng đời của mọi con người trong đời sống sinh hoạt cộng đồng và bảo lưu mọi giá trị văn hoá truyền thống.</p>
<p>Ngôi nhà Rông đẹp về kiến trúc độc đáo, nơi rung cảm cuốn hút mọi tâm hồn, cái độc đáo và cái đẹp tâm hồn chân chất Tây Nguyên đã hoà quyện làm nên chất liệu không gian văn hoá đặc sắc Tây Nguyên &#8211; ngôi nhà Rông.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/van-hoa-nha-rong-trong-doi-song-van-hoa-tay-nguyen.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những phong tục tập quán trong ngày tết cổ truyền ở Việt Nam</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/nhung-phong-tuc-tap-quan-trong-ngay-tet-co-truyen-o-viet-nam.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/nhung-phong-tuc-tap-quan-trong-ngay-tet-co-truyen-o-viet-nam.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:27:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phong Tục Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[các phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[cúng tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[lễ hội ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[tết cổ truyền của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tết của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tet nguyen dan cua viet nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=16</guid>
		<description><![CDATA[Tết Việt Nam chứa đựng và mang đậm bản sắc của dân tộc. Trải qua bao biến động của lịch sử, của thời gian nhưng người Việt vẫn gìn giữ được những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc trong ngày tết. Chợ tết Chợ tết có không khí khác hẳn với những <a href="http://phongtuctapquan.com/nhung-phong-tuc-tap-quan-trong-ngay-tet-co-truyen-o-viet-nam.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Tết Việt Nam chứa đựng và mang đậm bản sắc của dân tộc. Trải qua bao biến động của lịch sử, của thời gian nhưng người Việt vẫn gìn giữ được những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc trong ngày tết.</p>
<p align="justify">Chợ tết</p>
<p align="justify">Chợ tết có không khí khác hẳn với những phiên chợ thường ngày trong năm. Mua sắm chuẩn bị cho ba ngày tết thường không phải để “có cái ăn” mà đó là thói quen, là dậy lên không khí ngày lễ hội. Chợ tết được bố trí ở những bãi đất rộng, có thể chợ được thành lập ngay nơi chợ thường ngày vẫn diễn ra chuyện bán mua. Nhưng trong chợ tết, gần như tất cả “món ngon vật lạ” đều được bày bán. Không khí tết thấm đượm thật sự vào những ngày này bởi cảnh người mua hàng nặng trĩu giỏ.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//tet_co_truyen_Giap_Ngo_2014.jpg" alt="" width="590" height="393" /></div>
<p align="justify">Trong chợ tết, người ta mới bày bán những thứ mà quanh năm không thấy bán. Ví dụ như lá dong, lá chuối để gói bánh chưng, củ kiệu, đu đủ làm dưa. Người ta bán những chiếc tháp làm bằng bánh in bao giấy màu, những chiếc bánh ly bằng bột nếp hoặc bánh ngũ sắc dùng để chưng lên bàn thờ. Chợ còn bán những thứ không ăn được, nhưng vô cùng cần thiết cho ngày tết như phong bao lì xì, giấy dán và bây giờ phong trào viết chữ ngày tết đang phục hồi trở lại. Nhưng cái thú mua sắm trong ngày tết vẫn là chuyện đương nhiên, gần như không một nhà nào lại không “đi sắm tết”.</p>
<p align="justify">Dẫu rằng cách ăn, cách chơi tết trải qua bao năm đã thay đổi cho phù hợp với cuộc sống. Điều độc đáo ở chỗ là dù nhà giàu hay nghèo, nhu cầu mua sắm ngày tết là điều không thế thiếu.</p>
<p align="justify">Cây nêu ngày tết</p>
<p align="justify">Cây nêu là một cây tre cao khoảng 5 &#8211; 6 mét. Ở ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo từng địa phương) như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy (để táo quân dùng làm phương tiện về trời), giải cờ vải tây, điều (màu đỏ), đôi khi người ta còn cho treo lủng lẳng những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung, mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tại thành những tiếng kêu leng keng nghe rất vui tai… Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu…</p>
<p align="justify">Vào buổi tối, người ta treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn tết với con cháu. Vào đêm trừ tịch còn cho đốt pháo ở cây nêu để mừng năm mới tới, xua đuổi ma quỷ hoặc những điều không mạy. Cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng chạp, là ngày Táo quân về Trời &#8211; chính vì từ ngày này cho tới đêm Giao thừa vắng mặt Táo công, ma quỷ thường nhân cơ hội này lẻn về quấy nhiễu, nên phải trồng cây nêu để trừ tà. Đến hết ngày mùng Bảy thì cây nêu được hạ xuống.</p>
<p align="justify">Câu đối tết</p>
<p align="justify">Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các Nho học cho tới những người bình dân “tồn cổ” vẫn còn trọng tục treo “câu đối đỏ” nhân ngày tết. Những câu đối này được viết bằng chữ Hán (màu đen hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên thường được gọi chung là câu đối đỏ.</p>
<p align="justify">Hoa tết</p>
<p align="justify">Miền Bắc thường chọn cành đào đỏ để cắm trên bàn thờ hoặc cây đào trang trí trong nhà, theo quan niệm người Trung Quốc, đào có quyền lực trừ ma và mọi xấu xa, màu đỏ chứa đựng sinh khí mạnh, màu đào đỏ thắm là lời cầu nguyện và chúc phúc đầu xuân.</p>
<p align="justify">Miền Trung và miền Nam lại hay dùng cành mai vàng hoặc cây mai vàng hơn, màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng vinh hiển cao sang, màu vàng còn tượng trưng cho vua (thời phong kiến). Màu vàng thuộc hành Thổ trong Ngũ hành, theo quan điểm người Việt, Thổ nằm ở vị trí trung tâm và màu vàng được tượng trưng cho sự phát triển nòi giống.</p>
<p align="justify">Ngoài hai loại hoa đặc trưng cho tết là đào và mai, hầu như nhà nào cũng có thêm những loại hoa để thờ cúng và hoa trang trí. Hoa thờ cúng có thể như hoa vạn thọ, cúc, lay ơn, hoa huệ…; hoa để trang trí thì muôn màu sắc như hoa hồng, hoa thủy tiên, hoa lan, hoa thược dược, hoa violet… Còn cây quất thường được trang trí tại phòng khách, cây quất với lộc xanh mơn mởn, hoa trắng lốm đốm, quả chín vàng ươm, tròn trịa, sum suê tượng trưng cho sự sinh sôi, thịnh vượng, tràn đầy, viên mãn kết quả.</p>
<p align="justify">Màu của ngày Tết</p>
<p align="justify">Chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, màu chủ lực trong ngày tết vẫn là màu đỏ theo quan niệm màu đỏ là màu phát tài và may mắn. Ngày tết của Việt Nam ngập tràn màu đỏ: câu đối đỏ, phong bao lì xì đỏ, ruột quả dưa hấu đỏ, hạt dưa nhuộm màu đỏ, quyển lịch đỏ. Người Việt Nam cũng thích chưng những loại hoa ánh đỏ như hồng, mãn đình hồng, hoa đào v.v… Trước đây, khi pháo còn được cho phép đốt, đường sá ngập tràn trong màu đỏ của xác pháo nổ rân không ngớt kể từ giao thừa đến rạng sáng tết, rồi nổ lẻ tẻ mãi cho đến khi nào hết “mồng” mới thôi!</p>
<p align="justify">Trang phục có tông màu đỏ cũng được ưa chuộng để mặc tết.</p>
<p align="justify">Lễ tổ tiên ngày tết</p>
<p align="justify">Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi tết đến lại trở về sum họp dưới mái ấm gia đình. Nhiều người muốn được khấn vái trước bàn thờ, thăm lại ngôi mộ hay nhà thờ tổ tiên. Nhiều người cũng muốn thăm lại nơi họ đã từng sinh sống với gia đình trong thời niên thiếu. Đối với nhiều người xuất thân từ nông thôn Việt Nam, kỷ niệm thời niên thiếu có thể gắn liền với giếng nước, mảnh sân nhà. “Về quê ăn tết” đã trở thành thành ngữ chỉ cuộc hành hương về nơi cội nguồn.</p>
<p align="justify">Sắp dọn bàn thờ</p>
<p align="justify">Trong gia đình người Việt, thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vải).</p>
<p align="justify">Tùy theo từng nhà, cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng, phía sau 2 cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy, với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Cũng có nhà cắm “cành vàng lá ngọc” (một thứ hàng mã) với cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc, buôn bán lãi gấp 5, gấp 10 lần năm trước. Ở giữa có trục “vũ trụ” là khúc trầm hương dưới dạng khúc khuỷu, vươn lên trong bát hương.</p>
<p align="justify">Nhiều gia đình đặt xen giữa đèn và hương là hai cái đĩa để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tùy mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó), phía trước bát hương để một bát nước trong, coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu, dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới…</p>
<p align="justify">Trước bàn thờ nghi lễ truyền thống, ăn mặc lễ phục chỉnh tề, cử chỉ nghiêm trang, dọn lòng trong sạch hướng tâm linh cúng lạy, nguyện sống xứng đáng với ”bề trên”. Sự tín ngưỡng ấy đã góp phần tạo thêm giá trị nhân văn, đạo đức truyền thống, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc. Sự thờ cúng tổ tiên mách bảo con cháu giữ gìn đạo lý, nền nếp gia phong, sống tình nghĩa thủy chung, tu thân, hướng thiện, thực tâm cầu thị, yêu đồng loại, sâu nặng cội nguồn…</p>
<p align="justify">Dọn cúng mâm cao cỗ đầy, tề tựu đông đủ, với các món nấu nướng gia truyền, dâng cúng là những sản phẩm nông nghiệp: hoa tươi, rượu nếp gạo nấu tinh khiết, bánh trái, ngũ cốc, thịt gà, heo… nấu nướng thơm ngon đặt lên cúng trên bàn thờ. Để ông bà yên lòng nhìn thấy các cháu con biết giữ gìn truyền thống ”dĩ nông vi bản” và đem sức lao động cần cù làm ra thành quả từ lòng đất quê hương của ông cha để lại. Đây chính là nét văn hóa truyền thống góp phần bảo tồn di sản tinh thần và đạo đức trong đời sống con người lưu truyền tự ngàn xưa.</p>
<p align="justify">Xuất hành và hái lộc ngày tết: “Xuất hành” là đi ra khỏi nhà trong ngày đầu năm để đi tìm cái may mắn cho mình và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày, giờ và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần, hỉ thần… Nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục bẻ lấy một “cành lộc” để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục “hái lộc”. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề, cành si… là những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm mới. Cành lộc thường đem về cắm ở bàn thờ. Khác với miền Bắc, miền Trung không có tục hái lộc đầu năm, nhờ thế mà cây cối trong các đền chùa ở miền Trung vẫn giữ nguyên lá xanh biếc suốt cả mùa xuân.</p>
<p align="justify">Để gắn kết tình cảm gia đình, họ hàng, làng xóm những lời chúc tết thường là sức khỏe, phát tài phát lộc, gặp nhiều may mắn, mọi ước muốn đều thành công…; những người năm cũ gặp rủi ro thì động viên nhau “tai qua nạn khỏi” hay “của đi thay người”, nghĩa là trong cái họa cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành.</p>
<p align="justify">Chúc tết: Sáng mồng Một tết còn gọi là ngày Chính đán, con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để lễ Tổ Tiên và chúc tết ông bà, các bậc huynh trưởng. Theo quan niệm, cứ năm mới tới, mỗi người tăng lên một tuổị, bởi vậy ngày mồng Một tết là ngày con cháu “chúc thọ” ông bà và các bậc cao niên (ngày xưa, các cụ thường không nhớ rõ ngày tháng sinh nên chỉ biết tết đến là thêm 1 tuổi).</p>
<p align="justify">Lì xì</p>
<p align="justify">Lì xì ngày tết (phát âm theo người Quảng Đông: lishi): người lớn thường tặng trẻ em tiền bỏ trong một bao giấy đỏ, hay “hồng bao”, gọi là “lì xì” với những lời chúc mừng ăn no, chóng lớn. Theo cổ tích Trung Quốc, trong “hồng bao” có 8 đồng tiền (là Bát Tiên hóa thân) được đặt dưới gối đứa trẻ để xua đuổi quỷ đến quấy nhiễu.</p>
<p align="justify">Tín ngưỡng tết</p>
<p align="center"><em>Xin chữ đầu xuân </em></p>
<p align="center">Mỗi năm hoa đào nở</p>
<p align="center">Lại thấy ông đồ già</p>
<p align="center">Bầy mực tầu, giấy đỏ</p>
<p align="center">Bên phố đông người qua</p>
<p align="center">(Vũ Đình Liên)</p>
<p align="justify">Đầu năm thường gắn với việc cầu xin những điềm lành, việc lành trong ao ước của con người qua những cuộc hành hương về nơi linh thiêng nhất. Xin chữ là một trong những hoạt động tâm linh ấy.</p>
<p align="justify">Việc mang ý nghĩa này có ở nhiều nơi trên khắp mọi miền đất nước. Từ Bắc chí Nam, từ xuôi lên ngược, chẳng phân biệt giàu nghèo, sang hèn… ta thường bắt gặp những gương mặt giống nhau ở sự thành tâm của người xin chữ trước người cho chữ. Ngày xưa là chữ Nho, ngày nay vẫn là chữ Nho, lại có thêm cả chữ Ta nữa.</p>
<p align="justify">Các thầy đồ Hán học và Quốc ngữ học tha hồ thả hồn theo nét bút mà tặng lại cho người xin cái tâm, cái tài của mình được gửi qua nét chữ và nội dung của chữ theo ước nguyện của người xin. Chưa có ai bán chữ, chỉ có người mua giấy để xin chữ. Người cho chữ vẫn có lộc nhưng tinh tế hơn. Việc tưởng như không bình thường nhưng lại thể hiện được nét thanh tao của công việc. Các thầy đồ không phải bận bịu và hệ lụy vào chuyện giá cả, tiền nong để đủ thanh thản và toàn tâm trong công việc cho chữ mang vẻ thánh thiện này.</p>
<p align="justify">Việc xin chữ đầu năm lâu nay đã có và ngày một thịnh hành, nó đang trở thành phong tục đẹp của người Việt Nam mỗi độ xuân về tết đến. Tại thành phố Hà Nội, việc này diễn ra ở nhiều nơi: trong nhà riêng của một số thầy đồ có tiếng văn hay chữ tốt, trên đường phố nơi có khoảng hè rộng rãi và nhiều người qua lại. Chỗ có vẻ ấn tượng nhất là trước sân Miếu Văn, khoảng hè phố đường Bà Triệu, đoạn giao cắt với đường Trần Hưng Đạo… Xin chữ là một nét đẹp văn hóa cần phát huy. Chỉ một chữ treo trước mặt mà có ý nghĩa về đạo đức và đời sống, đối với những con người cụ thể sẽ giá trị hơn nhiều những lời nói sáo rỗng.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/nhung-phong-tuc-tap-quan-trong-ngay-tet-co-truyen-o-viet-nam.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tìm hiểu về phong tục hôn nhân của đồng bào Mông</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/tim-hieu-ve-phong-tuc-hon-nhan-cua-dong-bao-mong.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/tim-hieu-ve-phong-tuc-hon-nhan-cua-dong-bao-mong.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:27:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phong Tục Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[các phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[cúng tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[lễ hội ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[tết cổ truyền của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tết của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tet nguyen dan cua viet nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=20</guid>
		<description><![CDATA[Chuyện tình yêu, chuyện hôn nhân gia đình ở dân tộc nào cũng chứa đựng nhiều nét văn hoá khá đặc trưng. Đối với dân tộc Mông, một dân tộc cư trú trên những sườn núi quanh năm mây phủ, thì từ lối bày tỏ tình yêu đến cuộc sống hôn nhân có nhiều nét <a href="http://phongtuctapquan.com/tim-hieu-ve-phong-tuc-hon-nhan-cua-dong-bao-mong.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Chuyện tình yêu, chuyện hôn nhân gia đình ở dân tộc nào cũng chứa đựng nhiều nét văn hoá khá đặc trưng. Đối với dân tộc Mông, một dân tộc cư trú trên những sườn núi quanh năm mây phủ, thì từ lối bày tỏ tình yêu đến cuộc sống hôn nhân có nhiều nét độc đáo.</p>
<p>Trước đây, thanh niên Mông tin rằng: Muốn người nào đó yêu mình thì phải lấy trộm được tóc của người ấy, đem cuốn với tóc của mình. Sau đó bắn tin cho đối tượng, chắc chắn tình yêu sẽ đến. Có người lại tin: đốt đoạn đuôi rắn bôi vào cành cây búc rúc, quẳng vào lối mà cô gái hay đi qua, cô gái bước qua hay dẫm phải cành cây thì sẽ mắc vào “bùa yêu”, phải lấy người bỏ bùa. Đó là chuyện của người xưa nhưng đến tận bây giờ trong các bản làng Mông, người ta vẫn nhắc đến bùa yêu như khát vọng về hạnh phúc và thuỷ chung.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//chotinhmocchau.jpg" alt="" width="580" height="326" /></div>
<p>Từ xa xưa, con gái, con trai Mông đã chỉ nghe theo tiếng gọi của trái tim, người Mông không lấy vợ lấy chồng theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Con gái Mông đã yêu thì mãnh liệt vô cùng, nếu thích ai thì bỏ nhà bỏ cửa đi theo, mà không thích thì trâu béo, bạc nén cũng chẳng cần. Tình yêu khiến người ta vượt trăm sông ngàn suối để đến với nhau. Tình yêu thành lời hát, thành tiếng khèn tha thiết ở những phiên chợ tìm bạn, trên các sườn non, vách núi. Các chàng trai dùng tiếng khèn, điệu hát thay cho lời tỏ tình. Họ say nhau trong điệu múa tình tứ và trong những câu hát đối đáp giao duyên vấn vít. Những đêm trăng sáng, chàng trai đem khèn đến nhà cô gái mà anh ta ưng tấu lên khúc nhạc yêu da diết, đến nỗi cô gái không thể cầm lòng tìm đến với bạn tình. Khi đã ở bên nhau chàng mới ngỏ lời:</p>
<p>“Cái bụng anh thương em nhiều như lá rừng.<br />
Em không có lòng thì thôi. Có lòng thì về ta ở với nhau một đêm.<br />
Em không có lòng thì thôi, có lòng thì về, ta ở với nhau một ngày”</p>
<p>Cách bày tỏ tình yêu hết sức bộc trực, thẳng thắn mãnh liệt. Có lúc tình tứ lãng mạn đắm say, như lời bài dân ca Mông:</p>
<p>Gió về thổi lá cây bên khe<br />
Nếu ta là giọt mưa sương<br />
Ta xin tan trên bàn tay nàng<br />
Gió thổi lá cây, lật ngả nghiêng bên suối<br />
Nếu ta là bông tuyết trắng<br />
Ta xin tan dưới bàn tay nàng</p>
<p>Người Mông lại có hình thức “kéo vợ” (mà ta hay gọi là cướp vợ), không giống với bất kỳ dân tộc nào. Cho dù cô gái đã ưng thuận, nhưng khi chàng trai “bắt” cô vẫn cố tình giằng co để chứng tỏ danh giá của mình. Cái lý của người Mông, theo anh Sùng A Lứ, ở bản Lao Chải, huyện Sapa (Lào Cai) là “Để mai ngày sống với nhau có điều gì khúc mắc, chàng trai không được nói là “Cô tự theo tôi về” và cô gái cũng nói được: “Anh kéo tôi về đấy chứ”.</p>
<p>Tôi đã từng đến một số vùng đồng bào Mông, thấy cái giường hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ…dường như ở đây không có khái niệm giường đôi… Chiếc giường chỉ dài 1,5m, rộng 1,2m, vừa ngắn lại vừa hẹp. Tại sao cái giường hạnh phúc lại hẹp như vậy? Người Mông quan niệm cái giường càng ngắn, càng hẹp thì chứng tỏ vợ chồng nhà đó yêu thương nhau càng nhiều. Vì cái giường ngắn, hẹp phải quấn quýt lấy nhau mới có nhiều tình cảm!</p>
<p>Tôi cũng đặc biệt thích thú và thật sự khâm phục khi nhìn cảnh vợ chồng người Mông đi chợ về, anh chồng say nằm vắt ngang trên lưng ngựa, chị vợ kiên nhẫn túm đuôi ngựa, leo hết dốc này đến dốc khác đưa anh chồng say mềm về nhà. Khi say quá, anh chồng nằm vật bên vệ đường, thì cô vợ kiên nhẫn ngồi che ô, chờ đợi, quạt cho chồng cho đến khi nào tỉnh rượu.</p>
<p>Người phụ nữ Mông cũng có “cái lý” riêng của người vùng cao, nói như chị Dương Thị Phương, dân tộc Mông ở Hà Giang: “Chồng bạn say mới chứng tỏ là chồng bạn cao sang, giao du nhiều, có nhiều bạn. Bạn mà không che ô cho chồng bạn thì có người khác che ô thôi, bạn sẽ mất chồng”.</p>
<p>Người phụ nữ Mông xưa nay thường lệ thuộc vào người chồng vì giữa thiên nhiên hoang sơ, dữ dội người phụ nữ ai chả muốn nương tựa, che chở. Thế nhưng, không phải vì thế mà người phụ nữ không được đề cao, tôn trọng. Chị Phương còn cho biết thêm: “Điều đặc biệt là lời khèn đầu tiên bao giờ cũng nói về người phụ nữ, ngợi ca người phụ nữ, rằng họ là ngọn lửa sưởi ấm gia đình, sưởi ấm trái tim người đàn ông”.</p>
<p>Trong xã hội Mông, tình cảm vợ chồng thuỷ chung luôn luôn được coi trọng. Mọi chuyện dan díu quan hệ nam nữ bất chính đều bị lên án. Nhưng người Mông lại có riêng một ngày chợ phiên dành cho những lứa đôi: Chợ tình Khau Vai. Chợ tình Khau Vai thuộc huyện Mèo Vạc (Hà Giang) mỗi năm chỉ họp một lần vào ngày 27 &#8211; 3 âm lịch. Những đôi tình nhân ngày trước yêu nhau mà vì lý do nào đó không lấy được nhau, đến đây gặp gỡ, tâm tình. Họ bên nhau một ngày, nói chuyện xưa, chuyện nay cho vơi bớt nỗi nhớ nhung. Để rồi sau ngày chợ phiên ấy, ai về nhà ấy, trong gia đình ấm êm của mình. Hiếm có dân tộc nào có phong tục thấm đẫm chất nhân văn như thế. Vì sao chợ Khau Vai lại nhóm họp vào ngày 27 &#8211; 3? Theo anh Vương Mí Vàng, dân tộc Mông, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang thì đó là ngày mà một đôi trai gái yêu nhau nhưng không lấy được nhau, phải nói lời chia biệt từ một câu chuyện, truyền thuyết xa xưa.</p>
<p>Ngày nay, việc giao lưu văn hoá giữa các dân tộc được mở rộng, và có sự tác động của lối sống hiện đại, song người Mông vẫn giữ được chất lãng mạn, trong sáng trong tình yêu đôi lứa và trong hôn nhân gia đình. Hiếm khi bố mẹ đánh mắng con cái, và đặc biệt tỷ lệ vợ chồng ly hôn có lẽ là thấp nhất so với nhiều dân tộc khác. Phải chăng đó cũng là nhờ những phong tục hôn nhân truyền thống tốt đẹp mà các thế hệ người Mông biết nâng niu, gìn giữ.</p>
<p><strong>Minh Huệ (Trang tin điện tử của Ủy ban Dân tộc) </strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/tim-hieu-ve-phong-tuc-hon-nhan-cua-dong-bao-mong.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khám phá tục lệ cưới xin của dân tộc La Hủ</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-tuc-le-cuoi-xin-cua-dan-toc-la-hu.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-tuc-le-cuoi-xin-cua-dan-toc-la-hu.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:27:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phong Tục Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[các phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[cúng tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[lễ hội ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[tết cổ truyền của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tết của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tet nguyen dan cua viet nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=21</guid>
		<description><![CDATA[Lên vùng cao phía Bắc, thăm bà con dân tộc La Hủ thuộc tỉnh Lai Châu. Tục lệ cưới xin ở đây có nét đẹp riêng. Tháng 11, 12 hàng năm &#8211; là dịp Tết của người La Hủ &#8211; cũng là mùa cưới của các đôi trai gái yêu nhau. Chàng trai tìm hiểu <a href="http://phongtuctapquan.com/kham-pha-tuc-le-cuoi-xin-cua-dan-toc-la-hu.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Lên vùng cao phía Bắc, thăm bà con dân tộc La Hủ thuộc tỉnh Lai Châu. Tục lệ cưới xin ở đây có nét đẹp riêng. Tháng 11, 12 hàng năm &#8211; là dịp Tết của người La Hủ &#8211; cũng là mùa cưới của các đôi trai gái yêu nhau. Chàng trai tìm hiểu cô gái, đã tới độ &#8220;chín muồi&#8221;, anh có thể tới nhà cô gái ngủ một vài tối.</p>
<p>Lễ na-nhí, tức lễ dạm hỏi như vùng xuôi, thường vào buổi tối. Ông &#8220;mối&#8221; cùng bố mẹ và anh em nhà trai sang nhà gái để &#8220;có lời&#8221;. Lễ vật là rượu và một thứ &#8220;quà quý&#8221; của rừng &#8211; (&#8220;quà quý&#8221; này nhất thiết phải có thịt sóc rừng). Qua trò chuyện, nhà gái thấy bằng lòng thì hai bên cùng uống rượu, nhắm thịt sóc.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//la-hu.jpg" alt="" width="589" height="393" /></div>
<p>Sau lễ dạm là lễ hỏi, hai lễ này cách nhau khoảng bảy, tám ngày. Theo tục lệ, lễ hỏi gồm hai chai rượu và số con sóc phải là số chẵn chứ không được số lẻ, chừng 6 đến 8 con. Nhà trai phải &#8220;tuân theo&#8221; số lượng con sóc của nhà gái: 6 hoặc 8 con, vì theo lệ từ xưa, số sóc không được ít hơn 4 nhưng cũng không được nhiều hơn 8. Người làm mối trong lễ hỏi còn là người &#8220;đầu bếp&#8221;, tự tay làm thịt sóc, trình bày các món ăn này sao cho ngon để mời nhà gái.</p>
<p>Trong khi ăn uống vui vẻ hai bên trao đổi về tiền cưới và thời gian ở rể. Ngày xưa, tiền cưới khá &#8220;nặng túi&#8221;: những 70 đến 80 đồng bạc trắng. Trường hợp nhà rể nghèo, không có bạc trắng, thì anh phải ở lại làm rể ngay tối hôm đó. Thời gian ở rể bây giờ rút xuống còn từ 2 đến 4 năm, thời trước từ 8 đến 12 năm.</p>
<p>Nếu lễ ăn hỏi có số con sóc phải chẵn, thì lễ cưới quy định: đoàn đi đón dâu phải là số lẻ, trong đó có hai ông &#8220;mối&#8221; và chàng rể. Khi nhà trai đón dâu đi, ông &#8220;mối&#8221; trao tiền cưới cho nhà gái. Trên đường đi, dù có nhớ bố mẹ, cô dâu cũng không được ngoảnh lại nhìn ngôi nhà cô sinh ra và lớn lên, vì nếu vấp ngã, e sau này vợ chồng có chuyện cãi cọ không hay.</p>
<p>Rước dâu về đến nhà, bà mẹ chồng đã đứng đợi ở cửa. Bà lấy một nắm gạo xoa lên lưng con dâu, ngụ ý &#8220;xóa hết cỏ để con dâu không mang cỏ về, trên nương sẽ không có nhiều cỏ mọc&#8221;. Lại còn tục lệ: bà mẹ chồng trồng hai cây riềng ở hai bên cửa vào nhà, rồi buộc sợi chỉ trắng qua hai cây riềng. Lúc vào nhà, cô dâu đi phía tay trái, chú rể đi phía tay phải, rồi chú rể dùng tay trái, cô dâu dùng tay phải &#8220;cắt&#8221; đứt sợi chỉ đó, bước vào nhà. Xong thủ tục này hai họ cùng nâng chén chúc những câu tốt lành và ăn uống vui vẻ.</p>
<p>(Dantoconline)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-tuc-le-cuoi-xin-cua-dan-toc-la-hu.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khám phá tục uống rượu cần của người K’Ho</title>
		<link>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-tuc-uong-ruou-can-cua-nguoi-kho.html</link>
		<comments>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-tuc-uong-ruou-can-cua-nguoi-kho.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Dec 2015 23:27:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Phong Tục Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[các phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[cúng tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[lễ hội ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[những phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục chúc tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tuc cua ngay tet]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục ngày tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tập quán cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục tết nguyên đán]]></category>
		<category><![CDATA[tết cổ truyền của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tết của người việt]]></category>
		<category><![CDATA[tet nguyen dan cua viet nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phongtuctapquan.com/?p=22</guid>
		<description><![CDATA[Đến Tây Nguyên nghe câu hát “rượu cần lâu năm cất trong đáy mắt em/ anh vít cần, vít cần mà không dám uống”, khách viễn du không khỏi bàng hoàng trước văn hóa rượu cần của người dân nơi đây. Góp phần làm nên nét đẹp văn hóa này không thể không kể đến <a href="http://phongtuctapquan.com/kham-pha-tuc-uong-ruou-can-cua-nguoi-kho.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong class="contentpagetitle">Đến Tây Nguyên nghe câu hát “rượu cần lâu năm cất trong đáy mắt em/ anh vít cần, vít cần mà không dám uống”, khách viễn du không khỏi bàng hoàng trước văn hóa rượu cần của người dân nơi đây. Góp phần làm nên nét đẹp văn hóa này không thể không kể đến tục uống rượu cần của đồng bào K’Ho.</strong>Tục uống rượu cần của người K’Ho có một nét rất riêng. Rượu cần của người K’Ho là thứ rượu không qua chưng cất, thứ rượu được nấu lên từ gạo, kê, hoặc ngô, khoai, sắn trộn với một thứ men rừng, để khoảng từ một đến ba tháng thì có thể đem ra uống được. Khi uống, người ta đổ nước suối vào ché và dùng cần hút theo nguyên tắc chỉ dùng một cần chứ không dùng nhiều cần như một số dân tộc khác. Người K’Ho chỉ sử dụng rượu cần khi có những công việc trọng đại như tiếp khách, mừng những ngày lễ lớn trong năm, trong những nghi lễ thờ cúng. Khi uống rượu bao giờ người ta cũng tôn trọng chủ nhà và những người đạo cao đức trọng như già làng, tộc trưởng.<br />
Người K’Ho có cả một câu chuyện nói về tục làm rượu cần. “Chính con nhím, vốn có dạ dày cao nhã đã dạy kỹ thuật ca</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/01/01/23//ruou-can-mai-chau.jpg" alt="" width="551" height="370" /></div>
<p>o cấp này; làm rượu bằng quả mọng và các thứ quả nát thì chẳng ngon. Làm bằng củ, thì sẽ thành thuốc độc. Phải làm rượu cần bằng những viên bột gạo, sẽ có được món rượu ngon. Con nhím còn dạy phải làm bao nhiêu viên bột như vậy cho một chóe rượu; nó bày liều lượng cám, cơm nấu chính và thảo mộc (dùng để làm chất mùi và chất lên men) cần phải trộn những bánh bột nhỏ; nó dạy cách đặt than hồng dưới đáy nghè và một lớp cám trên cùng, trước khi bịt thật kín. Rồi nhím tự rút dạ dày của mình ra, giã nhỏ và trộn kín với bột, vừa nói: bao giờ cũng phải làm như thế này, rượu cần chỉ thật ngon khi có dạ dày nhím”.</p>
<p>Trong truyện cổ K’Ho cũng có rất nhiều truyện nhắc đến tục uống rượu. Thí dụ, K’Ting và K’Tang cứu cha, K’Không lên cây đa, Nàng Joông và con cá vàng, Chàng trai K’Ho, K’Pút con trai của thần mặt trời, Nàng Ka Giơng, Vợ chồng K’Đu và Ka Đùng, Trăn thần,… Theo truyện thì ché rượu cần, đặc biệt là ché cổ là rất linh thiêng. Người K’Ho quan niệm rằng “Những ché cổ là nơi trú ngụ của Giàng Tơr Nơm (thần rượu cần)”. Vì thế có những ché rượu cổ trị giá đến mấy chục con trâu. Sự giàu có của người K’Ho được đong đếm bằng số chiêng ché mà gia đình đó có. Đây là cảnh giàu có của một gia đình trong truyện cổ “Những ống muối, những bộ váy áo, những chiếc vòng đồng, những chiêng và ché rượu được sắp đầy nhà”, “có nhiều ché rượu cần cho cả buôn làng uống suốt một tháng hội hè”.</p>
<p>Đọc truyện cổ K’Ho, chúng tôi nhận thấy nghi thức uống rượu cần của người K’Ho có một nét rất riêng. Ở truyện Nàng Ka Giơng có một chi tiết sau: Gia đình K’Giou muốn cúng tạ ơn Giàng khi con cái họ khỏi bệnh. “Nhưng nhà hai anh em lại không có người giã gạo, để mở ché rượu cần và rót nước mời khách. Bố mẹ liền sai hai anh em đi mời những cô gái xinh đẹp khéo tay từ những buôn xa về giúp việc trong những ngày làm lễ.”. Chi tiết này cho ta thấy trong nghi lễ uống rượu cần thì người mở rượu cần phải là một cô gái. Một chi tiết nữa cũng trong tác phẩm này nói về tục uống rượu. Hai anh em đi khắp các buôn gần làng xa nhưng chỉ tìm được một cô gái. Về nhà bố mẹ hỏi, hai anh em liền thưa rằng: “Không tìm thấy được người con gái nào biết chọn củi loong mê nấu đượm, biết rót nước vào ché rượu cần mà không một giọt nào sánh ra ngoài”. Chi tiết này cho thấy đối với người K’Ho rót nước vào ché rượu phải là một cô gái trẻ đẹp khéo tay. Bởi người K’Ho quan niệm rằng rót nước vào rượu mà không đổ ra giọt nào thì gia chủ làm lễ cúng mới gặp được may mắn “Lúc K’Giơng mới từ trong nhà bước ra, trong tay cầm chiếc cher (một thứ gáo bằng đồng để múc nước đổ vào ché rượu cần) KGiăn sững sờ cả người. K’Giơng đẹp như một bông hoa rừng mới nở, cô gái mặc bộ quần áo đẹp nhất để tiếp khách quý”.</p>
<p>Rượu cần của người K’Ho càng để lâu năm càng ngon, càng quý. Vì thế, vị khách nào được gia chủ mang rượu cần lâu năm ra mời thì vị khác đó rất được mọi người coi trọng.</p>
<p>Trong truyện cổ K’Ho cũng có nói nhiều đến việc sử dụng rượu cần trong những dịp nào. Rượu cần trước hết được sử dụng để cúng Giàng như trong những truyện Nàng Ka Giơng, Chàng K’Pút con trai thần Mặt Trời, Cúng Giàng Kòi, Đánh trâu nước, Làng R’Lơm…; rượu cần được sử dụng trong nghi lễ cưới hỏi, ma chay, tiếp khách như trong truyện Nàng Ka Jong và con cá vàng, KTing và KTang cứu cha, Chàng trai K’Ho…</p>
<p>Có thể nói tục uống rượu cần và tục đánh chiêng là hai tục thường được nhắc đến trong truyện cổ. Những tục này là nét đẹp trong đời sống văn hóa của người K’Ho. Uống rượu cần trong tiếng chiêng tiếng trống, trong không khí hội hè nên con người càng trở nên gần gũi, gắn bó. Nếu có hiềm khích chuyện cũ, dịp này cũng bỏ qua để cùng nhảy múa tưng bừng. Nếu ai có lỗi lầm thì luật tục &#8220;phạt rượu&#8221;, cũng là cớ để cùng hòa giải, xóa bỏ lỗi lầm, để xóa đi cái mặc cảm mà hòa nhập trong sự cảm thông của cộng đồng. Nếu tiếng nhạc trong lễ cưới &#8220;kết đôi&#8221; đằm thắm thì trong tang lễ là buồn thương. Trong ngày hội tưng bừng, thì trong tế lễ trang nghiêm. Người uống rượu cũng tùy nghi lễ mà có cách mời chào, cách thưởng rượu khác nhau cho phù hợp.</p>
<p>Tục uống rượu cần gắn liền với sinh hoạt văn hóa, thành tục lệ không thể thiếu được trong đời sống của người K’Ho trong quá khứ và một phần hiện tại.</p>
<p><strong>Nguồn: baolamdong</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phongtuctapquan.com/kham-pha-tuc-uong-ruou-can-cua-nguoi-kho.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
